Thứ Bảy, 28/07/2012, 14:10

Bảo lãnh thanh toán: Doanh nghiệp phải khôn ngoan hơn

Một số ngân hành đặt yêu cầu bất khả thi đối với nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán, vì vậy khi thực hiện nghiệp vụ thanh toán xảy ra tranh chấp không đáng có, gây thiệt hại cho cả 2 bên.

Bảo lãnh thanh toán: Doanh nghiệp phải khôn ngoan hơn

Thời gian vừa qua nhiều hợp đồng bảo lãnh thanh toán do cácngân hàng phát hành nhưng không được thực hiện khi có yêu cầu. Có nhiều lý domà ngân hàng đưa ra để từ chối thanh toán bảo lãnh, cả hợp lý và không hợp lý,và bao giờ doanh nghiệp nhận thư bảo lãnh luôn là người chịu thiệt hại trướctiên.

Dịch vụ tiến tiến, nhưng không dễ …xơi

Trong các giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, mộtnhiệm vụ khó khăn và nan giải là việc thu tiền bán hàng từ người mua. Chính vìvậy dịch vụ bảo lãnh thanh toán ra đời với mục đích tạo thuận lợi cho doanhnghiệp, khi bên bán có nơi để thu hồi vốn còn bên mua thì không phải bỏ ngaymột khoản tiền lớn để thành toán.

Về phía ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cấp bảo lãnh đem lạikhoản phí bảo lãnh không nhỏ, 1-2% giá trị bảo lãnh. Hơn nữa việc thực hiện đầyđủ nhiều hợp đồng bảo lãnh cũng là phương thức quảng bá hình ảnh hữu hiệu củangân hàng, thể hiện tiềm lực tài chính mạnh mẽ. Có thể thấy cả 3 bên đều đạtlợi ích khi sử dụng dịch vụ này.

Tuy nhiên thời gian qua nhiều chứng thư bảo lãnh đã khôngđược ngân hàng chấp thuận, có trường hợp doanh nghiệp nhận thư bảo lãnh đã kiệnngân hàng ra tòa mới đòi được tiền như công ty Cao Trường Sơn kiện Chi nhánhHồng Hà-Agribank.

Nhưng cũng có trường hợp doanh nghiệp chưa chắc đã đòi đượctiền bảo lãnh bởi những rủi ro đến từ quyết định chấp nhận thư bảo lãnh. Mớiđây, ngân hàng HDBank cũng từ chối thanh toán cho CTCP Viễn Thông An Đô với lýdo chứng thư được cấp vượt thẩm quyền được giao, là chứng thư khống không cógiá trị và không được hạch toán vào hệ thống sổ sách của Hội sở.

Trúc trắc trong hợpđồng bảo lãnh

Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng đượcdoanh nghiệp ưa chuộng bởi khó có gì đảm bảo hơn một chứng thư bảo lãnh thanhtoán từ ngân hàng. Vì vậy khi nhận được thư bảo lãnh thường xem nhẹ các bướcthẩm định, hoặc thẩm định không đến nơi đến chốn.

Pháp luật quy định người có thẩm quyền ký kết của ngân hànglà người đại diện pháp luật và người được ủy quyển hợp pháp từ người đại diệnpháp luật. Tiếp đó người được ủy quyền sẽ được ủy quyền cho người khác nếu nhưđược người đại diện pháp luật cho phép. Luật quy định chỉ được ủy quyền tối đađến người thứ 3.

Ví dụ với trường hợp công ty An Đô mặc dù có thực hiện thẩmđịnh nhưng chưa có xác nhận về thẩm quyền ký thư bảo lãnh từ phía Hội sở củaHDBank đã thực hiện giao dịch với doanh nghiệp đối tác là công ty Á Âu.

Như  vậy ngân hàng cócơ sở để từ chối thanh toán bảo lãnh với doanh nghiệp khi được yêu cầu.

Tuy nhiên, nếu người ký chứng thư bảo lãnh đúng là được ủyquyền nhưng ngân hàng đưa ra lý do là vượt quá thẩm quyền, ví dụ quá hạn mức,thì lý do đó thiếu thuyết phục . Bởi hạn mức ký phát là quy định nội bộ ngânhàng, doanh nghiệp không có trách nhiệm phải biết.

Doanh nghiệp chỉ xác định đúng người ký có thẩm quyền ký kếtvà giá trị hợp đồng không vượt quá 50% tổng tài sản ngân hàng theo đúng luậtdoanh nghiệp là đủ thẩm quyền ký kết. Nếu nhân viên ngân hàng lạm quyền thìngân hàng vẫn phải có trách nhiệm với thư bảo lãnh đó.

Ngoài ra, nghiệp vụ bảo lãnh còn có rủi ro từ việc ký kết vàđiều kiện thực hiện bảo lãnh. Bên cạnh một số ngân hàng áp dụng bảo lãnh vôđiều kiện, chỉ cần trong thời hạn bảo lãnh thì cũng có ngân hàng đưa ra điềukiện bảo lãnh rắc rối, gây khó khăn cho cả bên nhận bảo lãnh lẫn ngân hàng.

Ví dụ ngân hàng đưa ra điều kiện trong thời hạn bảo lãnh sẽthanh toán nếu bên được bảo lãnh vi phạm. Khi ngân hàng nhận yêu cầu thanh toáncủa người có thư bảo lãnh với hồ sơ chỉ ra bên được bảo lãnh vi phạm thì phíađược bảo lãnh không đồng ý

Kết quả qua nhiều cấp tòa xét xử, mới xác định có vi phạmhay không và ngân hàng có phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán bảo lãnh không.

Rủi ro để từ chối bảo lãnh còn ở cách ghi thời hạn bảo lãnh, ví dụ thời hạn bảo lãnh là 360 ngày, dẫn tới cách hiểu khác nhau là ngàythường hay ngày làm việc. Ngân hàng hiểu là ngày thông thường còn doanh nghiệptính là ngày làm viêc

Hầu hết các doanh nghiệp chỉ sử dụng nghiệp vụ bảo lãnh vàocuối thời hạn do đó ngân hàng có thể từ chối thanh toán vì quá hạn, và để xácđịnh đúng sai lại phải thông qua phân xử tại tòa.

Doanh nghiệp cần khôn ngoan, ngân hàng phải cẩn trọng

Đối với ngân hàng khi thực hiệnnghiệp vụ cấp bảo lãnh điều cẩn trọng là khảnăng thu hồi vốn từ bên được bảo lãnh. Vì thế để giảm thiểu rủi ro, các ngânhàng cần nâng cao nghiệp vụ nhân viên cũng như hoàn thiện quy trình cấp bảolãnh song song với nghiệp vụ giao dịch bảo đảm.

“Các ngân hàng đã có chủ trươngquản trị rủi ro, nhưng nhiều cán bộ tín dụng chưa có nhận thức đúng về mức độrủi ro mất vốn của cấp bảo lãnh cũng tương đương với một khoản cho vay. Do đóphải thực hiện thẩm định khả năng trả nợ, tài sản bảo đảm của bên được bảo lãnhđể đảm bảo đó là khách hàng tốt, tài sản bảo đảm dễ xử lý trong trường hợpKhách hàng phải nhận nợ bắt buộc và phải xử lý tài sản. Như thế mới hạn chếđược rủi ro mất vốn”- Luật sự Trần Minh Hải khuyến nghị.

Đối với điều kiện bảo lãnh thì cầnáp dụng nguyên tắc thanh toán vô điều kiện trong hợp đồng cấp bảo lãnh đối vớiKhách hàng và cam kết bảo lãnh phát hành cho bên nhận bảo lãnh. Chỉ như thế,thì mới dễ cho cả ngân hàng và doanh nghiệp khi sử dụng quyền thanh toán bảolãnh cũng như xử lý tài sản đảm bảo của Khách hàng.

Còn đối với doanh nghiệp, khi nhậnđược thư bảo lãnh không nên vội vàng tin ngay mà cần có bước kiểm tra chéo. Xácđịnh thư bảo lãnh không phải là giả, người ký đủ thẩm quyền.

Doanh nghiệp nên liên hệ trực tiếpvới ngân hàng để nắm tình hình thực tế, nhất là hiện trạng của người ký hợpđồng thư bảo lãnh. Thông tin này tốt nhất là được hội sở ngân hàng xác nhận.

Thói quen của nhiều doanh nghiệpkhông làm trực tiếp với ngân hàng mà thường thông qua các “cò” do vậy rất dễ bịlừa. Có trường hợp doanh nghiệp bị lừa do tin vào cò, mặc dù chữ ký của đúngcủa giám đốc chi nhánh nhưng được ký sau khi bị cách chức.

Thanh Hải

Theo TTVN

Trong mạch chảy hình thành quần thể chung cư, khu đô thị mới, ngày càng nhiều phong cách ngoại quốc được du nhập vào Việt Nam từ chất lượng, kiến trúc, tới quản lý dịch vụ…
"Ở các thị trường nước ngoài, người ta mua chứng khoán nhiều hơn BĐS. Nhưng ở Việt Nam người dân thích đầu tư BĐS hơn là bỏ tiền vào các quỹ đầu tư hay chứng khoán", Giám đốc điều hành CBRE ông Marc Townsend cho biết.
Tại buổi làm việc với lãnh đạo Sở Xây dựng mới đây, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh đã chỉ rõ, mỗi nhà xây dựng trái phép được chung chi 30-50 triệu đồng, đồng thời yêu cầu cho thôi chức Chủ tịch UBND quận nếu để xảy ra tình trạng xây dựng nhà trái phép.
Chính phủ vừa đề xuất Quốc hội xem xét một số dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm giai đoạn 2016 - 2020 bao gồm đường bộ cao tốc Bắc – Nam, sân bay Long Thành, đường sắt cao tốc Bắc Nam... Tổng mức đầu tư ban đầu ước tính hơn 66 tỷ USD
Giá nhà đất tiếp tục leo thang chóng mặt là một phần nguyên nhân khiến các nhà đầu tư BĐS nước ngoài kém mặn mà với thị trường Nhật Bản.
Vừa qua, có một số Ngân hàng đã thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất huy động VNĐ đối với các kỳ hạn dưới 1 năm, mức giảm từ 0,3 - 0,5%. Có nhiều ý kiến tỏ ra lạc quan về tác động tích cực của động thái này tới thị trường bất động sản. Tuy nhiên, cũng có quan điểm tỏ ra khá thận trọng về tác động của việc giảm lãi suất.
Theo báo cáo mới nhất của công ty Savills, hầu hết các dự án nhà ở tại Bình Dương nhắm vào đối tượng khách hàng là chuyên viên, lãnh đạo và người mua từ những tỉnh/ thành khác.
Theo một nguồn tin của BizLIVE, tại Hội thảo “Cơ hội và tiềm năng Tập đoàn FLC” vào ngày 15/1 tới, Tập đoàn FLC sẽ chính thức mở bán dự án FLC Complex tại 36 Phạm Hùng, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Lên đầu trang