Chủ Nhật, 07/10/2012, 07:10

Nợ xấu: Càng để lâu, càng nhiều di chứng

Nợ xấu của ngân hàng phải giải quyết nhanh chóng, càng để chậm trễ sẽ càng gây ra những hậu quả lớn.

Nợ xấu: Càng để lâu, càng nhiều di chứng

Càng chậm càng bất lợi

Thứ nhất: Việc giải quyết nợ xấu chậm sẽ dẫn đến tình trạng cácbảng cân đối kế toán của các ngân hàng (NH) vẫn chiếm tỷ lệ nợ xấucao, đồng nghĩa với việc NH sẽ không thể cho vay và các DN không tiếpcận được vốn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Tình trạngnày kéo dài sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển kinh tế của đất nước trongnhững năm tiếp theo.

Thứ hai: Khi nợ xấu càng kéo dài thì các chi phí bỏ ra về mặt hữuhình và vô hình đối với xử lý nợ xấu càng lớn. Về mặt hữu hìnhlà việc các tài sản cầm cố tại ngân hàng sẽ ngày càng bị hao mòn,hư hỏng, giá trị và giá trị sử dụng sẽ mất dần, nếu nợ xấu được xửlý nhanh thì các tài sản này sẽ được đem ra sử dụng nhanh chóng, tạonên giá trị và giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Về mặt vô hình khi quátrình xử lý nợ xấu kéo dài, dẫn tới hệ số tín nhiệm của Việt Nam sẽkhó mà duy trì được mức tín nhiệm như hiện nay, điều này gây ảnhhưởng không nhỏ tới môi trường đầu tư.

Thứ ba: Tỷ lệ nợ xấu đối với lĩnh vực cho vay bất động sản thương mại và bấtđộng sản dân dụng mặc dù trong các báo cáo là không thật sự lớn, tuy nhiên cóthể vì lý do nào đó trong phương án kinh doanh, số tiền cho vay lẽ ra được rótvào các lĩnh vực sản xuất nhưng kỳ thực lại được rót vào bất động sản hoặclĩnh vực phi sản xuất.

Không thể có số liệu thống kê chính thức trong lĩnhvực này nhưng có thể dư nợ cho vay loại này không hề nhỏ đối với nền kinh tế,tình trạng bất động sản xuống giá như thời gian vừa qua càng làm cho nhu cầu đốivới bất động sản giảm mạnh, hàng tồn kho về bất động sản ngày càng tăng lên, cácDN bất động sản bắt buộc phải liên tục hạ giá bán nhưng vẫn không thể bán được,quá trình này diễn ra liên tục trong thời gian dài dẫn tới hiện tượng bán tháo,tuột dốc không phanh, khi đã dẫn tới tình trạng bán tháo mà vẫn khôngcó người mua thì số tiền mà các DN bất động sản bán được cũng không thể nàotrả được hết nợ gốc cho ngân hàng.

Thứ tư: Giải quyết nợ xấu nhanh sẽ cải thiện được năng lực tài chínhcủa các NH, năng lực tài chính của các NH là tốt thì việc điều hànhchính sách tiền tệ mới dễ dàng và hoạt động cung cấp tín dụng chonền kinh tế mới thực sự tốt.

Điều trị cách nào ít tốn kém?

Một là: Nếu bơm tiền giải cứu các ngân hàng thì chi phí này sẽ vô cùng lớn, quákhứ của kinh tế thế giới đã cho thấy điều này, chẳng hạn như chi phí giải cứucác ngân hàng thương mại ở Mexico và một số nước khác trên thế giới giaiđoạn từ năm 1994-1997 và giai đoạn 2001 đến 2004 đã tốn từ 14% đến 17% GDPcủa các nước đó. Mặc dù sau khi bảng tổng kết tài sản của các ngân hàng đã “sạch sẽ ” , các ngân hàng vẫn không thực sự hồi phục lại nguồn cung cấp tíndụng cho các DN, điều này đã giảm tốc độ tăng trưởng của Mexico và các nướcđó trong 10 năm tiếp theo.

Hai là: Trong bất kì phương án nào để xử lý nợ xấu thì Nhà nước vẫn phải chấpnhận sự thiệt thòi, vấn đề là chấp nhận ở mức độ nào và mức độ nào thì bản thâncác ngân hàng phải tự gánh chịu cho những sai lầm trong quá trình họ cung cấptín dụng cho các DN trong nền kinh tế.

Ba là: Khi tái cấu trúc nền kinh tế, không nên dùng lượng tiền này để giải cứucác NH và DN làm ăn kém hiệu quả, đã mắc không ít sai lầm trong quá khứ màlượng tiền này cần phải tập trung vào các NH và DN kinh doanh có hiệu quả, cácDN mới năng động, đủ sức cạnh tranh với các DN trong khu vực.

Phân loại để có phương án thích hợp

Phương án 1: Nhà nước sẽ mua lại toàn bộ nợ xấu cho các ngân hàngthương mại: Việc Nhà nước mua lại nợ xấu của các ngân hàng là một vấn đề cực kỳkhó giải quyết bởi vì để đảm bảo sự công bằng, minh bạch thì phải có một cơ chếđấu giá minh bạch đối với các tài sản này.

Tuy nhiên, việc đấu giá cho hàng vạn tài sản là nợ xấu tại hàng ngàn các DN,các cá nhân khác nhau trong nền kinh tế quả là rất khó khăn, quá trình này khôngthể giải quyết nhanh chóng, sẽ mất rất nhiều năm mới có thể thực hiệnđược. Vậy nếu mua lại nợ xấu thì chỉ nên dừng lại ở phạm vi hẹp vàđối với các tài sản dễ dàng định giá chính xác trên thị trường.

Phương án 2: Kéo dài thời gian các DN cần phải trả nợ cho các NH. Trước mắt, cácDN này sẽ vẫn duy trì được cơ bản lượng tiền, vốn nhất định đáp ứng cho nhu cầuhoạt động một cách cầm chừng, khi đã hoạt động mang tính cầm cự, các DN khôngthể nào đạt được lợi nhuận cao như trong điều kiện bình thường, nếu sản xuấtkinh doanh có lãi, số lãi này cũng không thể nào trả đủ cho phần lãi vay ngânhàng, chứ chưa nói đến việc trả số tiền gốc, các DN vẫn tiếp tục phải gánh chịunhững khoản nợ và phải tiếp tục trả lãi cao cho những món vay đó, như vậy phươngán này không thực sự hiệu quả, nó chỉ kéo dài thêm ngày xảy ra viễn cảnh xấumà thôi.

Phương án 3: Hỗ trợ để thực hiện các khoản thanh toán, chẳng hạn như Nhà nướcgiảm miễn thuế cho các DN, hoặc giãn thời gian nộp thuế đối với các DN, phươngán này có hiệu quả, tuy nhiên nó chưa phải là liều thuốc đủ mạnh để chữa trị chocác DN trong nền kinh tế hiện nay.

Phương án 4: Giảm lãi suất cho vay: Việc giảm lãi suất cho vay từ 18% xuống 15%,13%, 12% có ý nghĩa nhất định đối với nhiều DN trên thị trường, tuy nhiên điềunày cũng không khiến cho các DN xây dựng thêm nhà xưởng mới hoặc mua thêm máymóc thiết bị mới bởi vì thực tế đã chứng mình rằng trong thời gian qua, tìnhtrạng dư thừa năng lực sản xuất gia tăng đáng kể do lãi vay ngân hàng quá cao,một tỷ lệ không nhỏ các DN sản xuất kinh doanh trên thị trường phảithu hẹp quy mô hoạt động thậm chí phá sản, giải thể.

Phương án 5: Giảm số nợ gốc mà các ngân hàng đã cho các DN và các cánhân vay vốn:

Việc giảm số nợ gốc này được xét theo hai trường hợp cụ thể như sau:

Trường hợp 1: Đối với những khoản nợ xấu này lại có lỗi do nguyên nhân chủquan của ngân hàng như thẩm định dự án để cho vay sai, việc quản lý rủi ro chovay yếu kém, sử dụng tiền đối với các nghiệp vụ nhiều rủi ro như: ủy thác đầutư chứng khoán, cho vay kinh doanh chứng khoán, định giá cho vay bất độngsản là quá cao…

Đối với những nợ xấu rơi vào trường hợp này, theoquan điểm về kinh tế học thì Ngân hàng phải tự xử lý, tức là sẽ dùngquỹ dự phòng để sạch bảng cân đối kế toán, bởi vì Ngân hàng cũnglà một chủ thể, một pháp nhân trong nền kinh tế, khi họ đưa ra cácquyết định không thận trọng, sai sót trong kinh doanh thì đương nhiên họphải trả giá cho những việc làm của chính họ.

Nhà nước bơm tiền để giảiquyết các khoản nợ xấu do lỗi của ngân hàng thì xét về bản chất sẽ lấytiền đóng thuế của những DN làm ăn có hiệu quả và của người dân đểgiải cứu cho những việc làm sai lầm của NH. Hơn nữa nếu bơm tiền đểcứu các NH thua lỗ do hoạt động yếu kém của họ, sẽ tạo ra một tiềnlệ rất xấu và sẽ càng khuyến khích các ngân hàng này kinh doanh mạohiểm hơn như thế sẽ gây hậu quả khó lường về sau.

Trường hợp 2: Các khoản nợ xấu do nguyên nhân khách quan, tức là cácngân hàng thương mại đã quản trị rủi ro tốt, hồ sơ thẩm định cho vayđúng mục đích, đánh giá giá trị tài sản thế chấp phù hợp theo giáthị trường và theo quy định pháp lý.

Trong trường hợp này Nhà nướcvà ngân hàng đều phải cùng nhau chấp nhận thua thiệt đối với cáckhoản nợ xấu, Nhà nước có thể gánh chịu cho các DN số tiền lãi theomức lãi suất hiện nay, Nhà nước sẽ trả thay một phần nợ gốc hoặctoàn bộ nợ gốc đối với các DN đó, bù lại các DN phải chuyển mộtphần thậm chí toàn bộ cổ phần sang cho Nhà nước sở hữu.

Việc làm nàynếu xét ngay ở thời điểm hiện tại cho thấy Nhà nước bị thiệt thòi,tuy nhiên xét về lâu dài để vấn đề ổn định, phát triển kinh doanhcũng như về mặt xã hội thì nó lại có hiệu quả tốt hơn rất nhiều bởilẽ sau vài năm, kinh tế vĩ mô ổn định và tăng trưởng bền vững trở lại, Nhà nướcsẽ bán số cổ phần này cho các cổ đông khác trong nền kinh tế, thu hồi số tiềnvốn mà mình đã bỏ ra.

Có thể thấy trong bối cảnh hiện tại của nền kinh tế thì chỉ có một phần củaphương án 1 và phương án 5 là tối ưu, là giải quyết được triệt để vấn đề nợ xấutrong điều kiện hiện tại của nền kinh tế. Và việc xử lý nợ xấu càng khẩn trươngthì càng có hiệu quả cao và tránh được những thiệt hại lớn hơn cho nền kinh tế. TS Trịnh Hữu Hạnh
 Học viện Tài chính
Theo VEF
Trong mạch chảy hình thành quần thể chung cư, khu đô thị mới, ngày càng nhiều phong cách ngoại quốc được du nhập vào Việt Nam từ chất lượng, kiến trúc, tới quản lý dịch vụ…
"Ở các thị trường nước ngoài, người ta mua chứng khoán nhiều hơn BĐS. Nhưng ở Việt Nam người dân thích đầu tư BĐS hơn là bỏ tiền vào các quỹ đầu tư hay chứng khoán", Giám đốc điều hành CBRE ông Marc Townsend cho biết.
Tại buổi làm việc với lãnh đạo Sở Xây dựng mới đây, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh đã chỉ rõ, mỗi nhà xây dựng trái phép được chung chi 30-50 triệu đồng, đồng thời yêu cầu cho thôi chức Chủ tịch UBND quận nếu để xảy ra tình trạng xây dựng nhà trái phép.
Chính phủ vừa đề xuất Quốc hội xem xét một số dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm giai đoạn 2016 - 2020 bao gồm đường bộ cao tốc Bắc – Nam, sân bay Long Thành, đường sắt cao tốc Bắc Nam... Tổng mức đầu tư ban đầu ước tính hơn 66 tỷ USD
Giá nhà đất tiếp tục leo thang chóng mặt là một phần nguyên nhân khiến các nhà đầu tư BĐS nước ngoài kém mặn mà với thị trường Nhật Bản.
Vừa qua, có một số Ngân hàng đã thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất huy động VNĐ đối với các kỳ hạn dưới 1 năm, mức giảm từ 0,3 - 0,5%. Có nhiều ý kiến tỏ ra lạc quan về tác động tích cực của động thái này tới thị trường bất động sản. Tuy nhiên, cũng có quan điểm tỏ ra khá thận trọng về tác động của việc giảm lãi suất.
Theo báo cáo mới nhất của công ty Savills, hầu hết các dự án nhà ở tại Bình Dương nhắm vào đối tượng khách hàng là chuyên viên, lãnh đạo và người mua từ những tỉnh/ thành khác.
Theo một nguồn tin của BizLIVE, tại Hội thảo “Cơ hội và tiềm năng Tập đoàn FLC” vào ngày 15/1 tới, Tập đoàn FLC sẽ chính thức mở bán dự án FLC Complex tại 36 Phạm Hùng, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Lên đầu trang