Thứ Tư, 10/10/2012, 08:50

Giải pháp nào cho bài toán nợ xấu?

Nếu coi thị trường mua bán nợ xấu bao gồm cả các nhà đầu tư nước ngoài thì vấn đề chỉ còn là giá cả đã đủ hấp dẫn hay chưa?

Giải pháp nào cho bài toán nợ xấu?

Xử lý nợ xấu để khơi thông luồng tín dụng, thúc đẩy tăng trưởngkinh tế và giảm thất nghiệp là một trong những giải pháp cấp bách hiện nay nhậnđược nhiều ý kiến ủng hộ. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một phương án xửlý nợ xấu cụ thể nào được đưa ra. Việc thiếu vắng sự đồng thuận trong xã hộicho thấy mỗi phương án xử lý nợ đều đang gặp phải những trở ngại rất khó vượtqua.

Xoay quanh vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi vớichuyên gia tài chính Nguyễn Đức Độ – Viện Kinh tế – Tài chính (Học viện Tàichính).

Nhiều ý kiến cho rằng nên để thị trường tự giải quyếtvấn đề nợ xấu, ông có nghĩ rằng ý kiến này là đúng không?

Việc thị trường có thể tự giải quyết được vấn đề nợ xấu haykhông phụ thuộc vào 2 yếu tố: nguồn lực tài chính và giá cả.

Về nguồn lực tài chính, các nguồn lực tài chính trong nướcđã không còn dồi dào như trước đây, bởi phần lớn các doanh nghiệp và nhà đầu tưđang ở trong tình trạng nợ nần do sử dụng đòn bẩy tài chính ở mức cao. Chính vìthế ưu tiên của họ là giảm nợ chứ không phải mua nợ.

Nhưng nếu coi thị trường mua bán nợ xấu bao gồm cả các nhà đầutư nước ngoài thì vấn đề chỉ còn là giá cả đã đủ hấp dẫn hay chưa?

Về điểm này thì các nhà đầu tư nước ngoài và một số nhà dầutư trong nước nắm giữ nhiều tiền đang ở thế thượng phong. Họ chỉ chấp nhận muanợ xấu với giá rẻ, bởi càng để lâu các khoản nợ xấu sẽ mất giá do những áp lựcvề trả nợ, giá bất động sản giảm...

Theo kinh nghiệm quốc tế được nhiều chuyên gia trích dẫn,các khoản nợ xấu chỉ có thể bán với giá trung bình ở mức từ 30 – 50% giá trịban đầu.

Nhưng dường như cả doanh nghiệp và ngân hàng đều đangkhông muốn bán lại nợ xấu với mức giá quá thấp như vậy?

Đúng thế. Vì nếu bán nợ xấu với giá quá thấp thì đồng nghĩavới việc nhiều doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng phá sản, còn các ngân hàng nếukhông phá sản sẽ vào tình trạng thua lỗ.

Hơn nữa, phần lớn các khoản nợ xấu có tài sản thế chấp là bấtđộng sản (ở mức 130%) nên cả ngân hàng và doanh nghiệp đều không muốn bán nợ xấuvới mức chiết khấu lớn, họ vẫn hy vọng có thể bán được tài sản thế chấp ở mứcgiá cao hơn.

Với nhiều doanh nghiệp, việc bán tài sản thế chấp với mứcgiá thấp sẽ khiến họ bị mất trắng số tài sản này do vậy sẽ dẫn đến những tranhchấp về pháp lý, đồng thời tiêu tốn nhiều tiền của và thời gian.

Không tìm được tiếng nói chung phải chăng các bên đềutrông chờ vào sự giúp đỡ của Nhà nước?

Trong bối cảnh hiện nay sự can thiệp của Nhà nước là cần thiết.Vì nếu không các ngân hàng và doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện theo phương phápxử lý từng bước.

Và rõ ràng là phương án này đòi hỏi rất nhiều thời gian và gặpnhiều rủi ro. Trong khi chưa giải quyết được vấn đề nợ xấu, tín dụng sẽ tăng chậm;lợi nhuận, vốn chủ sở hữu và tài sản của các ngân hàng cũng sẽ tăng chậm.  

Nếu quy mô vốn chủ sở hữu của hệ thống NH là 400 nghìn tỷ đồng, tỷ lệ ROE trong những năm tới là 10 – 15% và các NH trích một nửa số lợi nhuận để giải quyết nợ xấu thì mỗi năm sẽ giảm được nợ xấu khoảng 20 – 30 nghìn tỷ đồng, tức phải mất 7 – 10 năm để giải quyết số nợ xấu quy mô 200 nghìn tỷ..

Tín dụng tăng trưởng thấp sẽ khiến tăng trưởng GDP thấp, vớiviệc mỗi năm có thêm hơn 1 triệu người gia nhập lực lượng lao động, tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng mạnh qua mỗi nămvà gây ra nhiều chi phí xã hội khác. Do đó, Nhà nước không thể không can thiệp.

Giả sử Nhà nước sẽ can thiệp vào việc xử lý nợ xấu,theo ông có những thách thức gì sẽ đặt ra?

Thứ nhất về vấn đề nguồn lực. Với quy mô nợ xấu lên đến200 nghìn tỷ đồng, ngân sách Nhà nước sẽ rất khó đáp ứng tất cả trong thời gianngắn, bởi thu ngân sách đang bị ảnh hưởng mạnh từ việc tăng trưởng kinh tế suygiảm, còn nợ công đang tiến gần đến mức 60% GDP.

Một nguồn khác có thể được tính tới là phải cổ phần hóa cácDNNN, nhưng để thu được số tiền như yêu cầu thì việc cổ phần hóa đó phải diễnra trên quy mô lớn. Nó cũng đòi hỏi nhiều thời gian và cũng gặp phải nhiều vậtcản từ các nhóm lợi ích.

Thứ hai cho dù Nhà nước có đủ nguồn lực thì việc xácđịnh giá mua cũng là vấn đề khó giải quyết. Giá của một tài sản đang sinh lờicòn rất khó xác định, do nhiều phương pháp định giá khác nhau, các dự báo vềdòng tiền trong tương lai khác nhau hay do việc lựa chọn lãi suất chiết khấucũng khác nhau. Chính vì thế việc xác định giá trị của một tài sản xấu là côngviệc chứa đựng rất nhiều rủi ro.

Điều này sẽ tạo ra kẽ hở để các nhóm lợi ích hoạt động và việcđịnh giá tài sản cao sẽ điều chắc chắn sẽ xảy ra.

Thứ ba kể cả khi nợ xấu được mua với mức giá hợp lý,câu hỏi đặt ra là Nhà nước sẽ làm gì với các khoản nợ xấu này? Nếu đó là cáctòa nhà đang xây dở dang hay các công ty đang thua lỗ thì ai sẽ đứng ra thực hiệncác phương án khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh? Đó là còn chưa kể cáccông việc này cũng đòi hỏi những nguồn lực rất lớn về vốn và con người.

Thứ tư nếu Nhà nước có thể làm được những việc trên vẫncòn một câu hỏi nữa là sau đó Nhà nước sẽ bán lại nợ đó cho ai? Bán với giá nàođể không bị lỗ?...

Nói như vậy thì Nhà nước cũng không thể bỏ tiền để muatất cả nợ xấu của nền kinh tế mà nếu để tư nhân tham gia lại “vấp” vào vấn đềgiá. Theo ông làm sao để giải quyết được bài toán này một cách hài hòa?

Cũng phải nhấn mạnh rằng, nếu mua nợ theo mức giá các nhà đầutư tư nhân đề xuất thì tốt hơn hết là nên để thị trường tự giải quyết. Thị trườngkhông thiếu tiền! Tuy nhiên, nếu mua nợ xấu theo giá Nhà nước quyết thì tư nhânsẽ không bỏ tiền vào, bởi họ sẽ lo ngại đến rủi ro liên quan đến hiệu quả.

Chính vì thế, giải pháp hài hòa cho tât cả là Nhà nước sẽtrợ giá cho những người mua nợ xấu.

Chỉ khi có sự trợ giá của Nhà nước thì mới đủ lớn để lấp khoảngcách này và đủ khuyến khích để việc mua bán nợ tự diễn ra theo cơ chế thị trường.

Người mua nợ sẽ được lợi nhuận, người bán nợ sẽ không bị lỗquá nhiều. Tuy nhiên, người nộp thuế sẽ bị thiệt hại khi bỏ tiền trợ giá chocác doanh nghiệp, ngân hàng và các nhà đầu tư.

Nhưng đổi lại khi tín dụng được khơi thông thì nền kinh tế sẽtăng trưởng cao hơn, tỷ lệ thất nghiệp sẽ không tăng hoặc tăng chậm, Nhà nước sẽphải chi ít tiền hơn để thực hiện các biện pháp kích cầu, đảm bảo an sinh xã hội.

Nếu những lợi ích này lớn hơn so với những khoản tiền sử dụngđể thực hiện trợ giá thì đây là giải pháp nên được cân nhắc.

Xin cảm ơn ông!

Khánh Linh (thực hiện)

Theo TTVN

Trong mạch chảy hình thành quần thể chung cư, khu đô thị mới, ngày càng nhiều phong cách ngoại quốc được du nhập vào Việt Nam từ chất lượng, kiến trúc, tới quản lý dịch vụ…
"Ở các thị trường nước ngoài, người ta mua chứng khoán nhiều hơn BĐS. Nhưng ở Việt Nam người dân thích đầu tư BĐS hơn là bỏ tiền vào các quỹ đầu tư hay chứng khoán", Giám đốc điều hành CBRE ông Marc Townsend cho biết.
Tại buổi làm việc với lãnh đạo Sở Xây dựng mới đây, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh đã chỉ rõ, mỗi nhà xây dựng trái phép được chung chi 30-50 triệu đồng, đồng thời yêu cầu cho thôi chức Chủ tịch UBND quận nếu để xảy ra tình trạng xây dựng nhà trái phép.
Chính phủ vừa đề xuất Quốc hội xem xét một số dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm giai đoạn 2016 - 2020 bao gồm đường bộ cao tốc Bắc – Nam, sân bay Long Thành, đường sắt cao tốc Bắc Nam... Tổng mức đầu tư ban đầu ước tính hơn 66 tỷ USD
Giá nhà đất tiếp tục leo thang chóng mặt là một phần nguyên nhân khiến các nhà đầu tư BĐS nước ngoài kém mặn mà với thị trường Nhật Bản.
Vừa qua, có một số Ngân hàng đã thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất huy động VNĐ đối với các kỳ hạn dưới 1 năm, mức giảm từ 0,3 - 0,5%. Có nhiều ý kiến tỏ ra lạc quan về tác động tích cực của động thái này tới thị trường bất động sản. Tuy nhiên, cũng có quan điểm tỏ ra khá thận trọng về tác động của việc giảm lãi suất.
Theo báo cáo mới nhất của công ty Savills, hầu hết các dự án nhà ở tại Bình Dương nhắm vào đối tượng khách hàng là chuyên viên, lãnh đạo và người mua từ những tỉnh/ thành khác.
Theo một nguồn tin của BizLIVE, tại Hội thảo “Cơ hội và tiềm năng Tập đoàn FLC” vào ngày 15/1 tới, Tập đoàn FLC sẽ chính thức mở bán dự án FLC Complex tại 36 Phạm Hùng, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Lên đầu trang