Thứ Tư, 02/11/2011, 09:10

Những quy định về hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND xã, phường

Hỏi: Tôi là đương sự trong một vụ tranh chấp về đất đai. Chúng tôi đã tiến hành hòa giải tại UBND phường nhưng không thành. Xin hỏi quý Báo, Biên bản hòa giải không thành có được gửi cho các bên không?
Đối với trường hợp hòa giải không thành, UBND phường có phải ra văn bản để trả lời các bên trong tranh chấp không? (Nguyễn Văn Tuấn, quận Hoàng Mai, Hà Nội)

Trả lời

Khoản 2 Điều 159 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP về thi hành Luật Đất đai 2003 quy định: “Trường hợp các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hoà giải thành hoặc hoà giải không thành của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Biên bản hoà giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp”. Như vậy, dù việc hòa giải thành hay không thành thì UBND phường vẫn phải gửi Biên bản hòa giải tới các bên trong tranh chấp.

Pháp luật hiện hành chưa có quy định trong trường hợp hòa giải tranh chấp đất đai không thành, UBND xã, phường, thị trấn phải ra văn bản trả lời các bên trong tranh chấp. Tuy nhiên, trên thực tế, khi hòa giải đất đai không thành, UBND xã, phường, thị trấn thường ra văn bản trả lời về việc hòa giải không thành và hướng dẫn các bên trong tranh chấp tiếp tục giải quyết tranh chấp tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 136 Luật Đất đai 2003, cụ thể như sau:

- Tòa án nhân dân sẽ giải quyết tranh chấp đối với các vụ việc mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai 2003 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất.

- Chủ tịch UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai.

Thạc sỹ, Luật sư Quản Văn Minh
(Theo Landtoday)

Hỏi: Tôi vẫn còn nhiều vướng mắc trong việc xác định đất có thời hạn là đất như thế nào. Mong luật sư giải đáp giúp vì tôi đang có nhu cầu mua một mảnh đất để thực hiện dự án.
Hỏi: Tôi nợ chồng cũ 15 cây vàng, tương đương giá trị của nửa căn nhà. Trả được 9 cây thì tôi hết tiền và được anh xóa nợ. Giờ tôi muốn bán nhà thì có phải hỏi ý kiến anh không?
Cách đây 24 năm, mẹ tôi cho hàng xóm mượn một mảnh đất để trồng lúa. Tuy nhiên, đến nay, họ tự ý xây nhà trên đất đó và không có ý định trả lại cho mẹ tôi.
Hỏi: Vợ chồng tôi có hộ khẩu thường trú tại phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên thửa đất chúng tôi định xây dựng nhà lại nằm ở xã Mỹ Thạnh An. Vậy chúng tôi có được vay vốn hỗ trợ nhà ở theo Thông tư số 17/2014/TT-BXD hay không?
Bộ Tài chính đề xuất, khi xác định thuế phải nộp, phần đất và phần nhà (đã xây) sẽ được tách riêng. Như vậy, một ngôi nhà (dù là nhà đất hay chung cư) sẽ phải chịu cả thuế đất lẫn thuế nhà.
Hỏi: Chồng tôi là người nước ngoài, chúng tôi đã đăng ký kết hôn tại Việt Nam. Hiện chúng tôi đang có nhu cầu mua nhà, đất riêng lẻ, không thuộc các dự án xây dựng.
Lên đầu trang