Thứ Sáu, 21/12/2012, 19:10

Vụ trưởng Vụ Thanh toán NHNN: Hoạt động kinh doanh thẻ của nhiều ngân hàng đang lỗ

Theo NHNNN, mục đích chính của việc thu phí đối với giao dịch ATM rút tiền nội mạng chỉ hướng tới việc bù đắp, thu hồi một phần chi phí giao dịch, giúp các ngân hàng cân đối phần nào chi phí bỏ ra.

Vụ trưởng Vụ Thanh toán NHNN: Hoạt động kinh doanh thẻ của nhiều ngân hàng đang lỗ

Vừa qua, Dự thảo Thông tư phí dịch vụ thẻ nội địa đã được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đăng tải trên Website NHNN để lấy ý kiến của các cá nhân, tổ chức.

Ngày 19/12/2012, phóng viên đã có buổi trao đổi với ông Bùi Quang Tiên - Vụ trưởng Vụ Thanh toán NHNN về các vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau đối với Dự thảo này.  Dưới đây là ý kiến của Vụ trưởng Bùi Quang Tiên:

Chi phí và lợi ích thu được từ dịch vụ ATM của các ngân hàng

Trong hơn 10 năm qua, do yếu tố cạnh tranh, phát triển nguồn khách hàng, các ngân hàng Việt Nam thường thực hiện miễn, giảm phí dịch vụ thẻ nội địa như phí phát hành, phí thường niên, phí giao dịch ATM cho khách hàng.... Tuy nhiên, gần đây một số ngân hàng mới thực hiện thu gián tiếp phí thường niên qua hình thức thu phí quản lý tài khoản thẻ bởi vậy lợi ích thu được từ các loại phí này (nếu có) đối với ngân hàng là không đáng kể.

Lợi ích chủ yếu từ hoạt động kinh doanh thẻ nội địa của các ngân hàng là số dư tiền gửi không kỳ hạn cá nhân gắn với tấm thẻ ghi nợ/ ATM, tính đến cuối tháng 6/2012 là 40 nghìn tỷ đồng trên các tài khoản thẻ toàn hệ thống. Tuy nhiên, đồng nghĩa nguồn thu này bằng tổng số dư tài khoản thẻ nhân với chênh lệnh giữa lãi suất tiền gửi không kỳ hạn (hiện khoảng 2-3%) với lãi suất tiền gửi có kỳ hạn/ tiết kiệm (8-9%) là có phần chưa chính xác và toàn diện.

Thứ nhất, đây có bản chất là dòng tiền “động”, các ngân hàng phải dự phòng phần lớn nguồn tiền để đáp ứng nhu cầu giao dịch rút tiền, thanh toán, chuyển tiền bất thường, không theo quy luật của hàng triệu khách hàng, trong đó có lượng tiền “chết” cho tiếp quỹ ATM và phải mất nhiều chi phí, nhân lực để quản trị rủi ro thanh khoản, cân đối kỳ hạn... bởi vậy, không thể tính nguồn thu “áp” theo lãi suất tiền gửi có kỳ hạn/ tiền gửi tiết kiệm. Khách hàng muốn có lãi suất cao hơn có thể lựa chọn hình thức gửi tiết kiệm có kỳ hạn mặc dù chỉ với số tiền rất nhỏ.

Thứ hai, phân bổ hết lợi ích số dư này cho hoạt động kinh doanh thẻ là chưa tính hết yếu tố bề dày uy tín, các hoạt động ngân hàng bổ trợ khác (mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, hệ thống công nghệ thông tin...) của ngân hàng để cấu thành nên chất lượng dịch vụ thanh toán nhằm có được số dư tài khoản tiền gửi nêu trên.

Trên thực tế, hoạt động kinh doanh thẻ của nhiều ngân hàng, nhất là những ngân hàng với mạng lưới ATM lớn thường là thu không đủ bù chi. Nhiều ngân hàng quy mô nhỏ, ngân hàng nước ngoài, sau khi cân đối lợi ích, chi phí từ hoạt động kinh doanh thẻ ATM đã lựa chọn chỉ đầu tư tượng trưng một lượng máy ATM nhất định hoặc không đầu tư mạng lưới ATM của riêng mình.

 Bên cạnh đó, đặc điểm của thị trường thẻ Việt Nam là giao dịch ATM rút tiền khối lượng lớn (trên 1 triệu giao dịch/ ngày), chiếm tỷ trọng cao (trên 70% tổng lượng giao dịch ATM), thời gian tiền được duy trì trong tài khoản tương đối ngắn nên chi phí cho công tác tiếp quỹ, bảo trì, bảo dưỡng, thay thế vật tư hao mòn và tiền mặt tồn quỹ... phục vụ cho rút tiền từ ATM là rất lớn trong khi lợi ích thu được từ việc để tiền trong tài khoản chưa nhiều. Nhìn chung, công tác đầu tư, duy trì mạng lưới ATM là hoạt độngrất tốn kém.

Theo thống kê của NHNN, trong năm 2012, tổng chi phí liên quan đến đầu tư, vận hành hệ thống ATM là gần 3,7 nghìn tỷ đồng; tổng thu (đã bao gồm lợi ích thu được từ số dư tiền gửi không kỳ hạn tài khoản thẻ nội địa) là xấp xỉ 1,7 nghìn tỷ đồng; chênh lệch thu-chi chưa cân đối được là 2 nghìn tỷ đồng.

Tóm lại, tình trạng thu chi mất cân đối trong hoạt động kinh doanh thẻ nếu kéo dài thêm sẽ dẫn tới việc các ngân hàng không có động lực đầu tư mở rộng và duy trì mạng lưới ATM cũng như việc nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ, và vô hình trung ảnh hưởng tới lợi ích của toàn xã hội, của ngân hàng và khách hàng.

Thu phí dịch vụ thẻ là phù hợp với thực tiễn và quy định của pháp luật hiện hành

Trên thực tế, các dịch vụ ngân hàng hoặc các dịch vụ tiện ích khác trong xã hội mà không phải là dịch vụ công, nói chung việc cung ứng dịch vụ thường trên cơ sở thỏa thuận giữa nhà cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ, trong đó có thỏa thuận về mức và loại phí. Các dịch vụ tiện ích miễn phí (nếu có) thường chỉ có trong một giai đoạn nhất định, phù hợp với chiến lược và năng lực của từng tổ chức trong từng thời kỳ và nếu duy trì trong thời gian dài sẽ không đảm bảo chất lượng hoặc phát triển không bền vững do không cân đối được lợi ích và chi phí.

Dự thảo Thông tư nói chung và quy định ngân hàng thương mại có thể thu phí dịch vụ, phí giao dịch ATM, trong đó có phí giao dịch rút tiền nội mạng là phù hợp với khuôn khổ pháp luật hiện hành, cụ thể: Theo quy định về quyền của bên cung ứng dịch vụ theo Bộ luật Dân sự (Khoản 3 Điều 523) thì bên cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầu bên thuê dịch vụ trả tiền dịch vụ; Về hình thức, nguyên tắc trả lương quy định tại Bộ Luật Lao động (Điều 94, 96): Lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng. Trường hợp trả qua tài khoản ngân hàng, thì người sử dụng lao động phải thỏa thuận với người lao động về các loại phí liên quan đến việc mở, duy trì tài khoản; Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn;Nguyên tắc chung nêu tại Pháp lệnh phí và lệ phí có ghi:Mức thu phí đối với các dịch vụ do tổ chức, cá nhân đầu tư vốn phải đảm bảo thu hồi vốn trong thời gian hợp lý; Luật các Tổ chức tín dụng (Điều 91) có quy định về quyền của tổ chức tín dụng trong việc ấn định và niêm yết công khai mức phí cung ứng dịch vụ thanh toán. Cuối cùng, Quy chế về thẻ ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN cũng quy định chủ thẻ phải trả phí cho việc sử dụng thẻ.

Thu phí nhằm thúc đẩy tăng cường chất lượng dịch vụ ATM

Để đảm bảo việc các ngân hàng thu phí gắn với việc không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, dự thảo Thông tư có những điều khoản rằng buộc trách nhiệm của các ngân hàng khi cung ứng dịch vụ ATM như tuân thủ quy định của NHNN về trang bị, vận hành và đảm bảo an toàn hoạt động ATM; giải đáp, xử lý kịp thời các thắc mắc, khiếu nại hoặc sự cố kỹ thuật liên quan đến giao dịch của chủ thẻ; hoàn trả số tiền giao dịch nếu giao dịch lỗi và bồi thường thiệt hại nếu do lỗi của ngân hàng phát hành thẻ; phổ biến, hướng dẫn cho chủ thẻ quy trình thao tác sử dụng thẻ.

Về nguyên tắc, đảm bảo và nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ là một trong những mục tiêu chính của mỗi ngân hàng khi cung ứng dịch vụ này. Có đảm bảo được chất lượng dịch vụ thẻ tốt thì mới duy trì, phát triển cơ sở khách hàng và nâng cao hình ảnh, uy tín của ngân hàng. Trong điều kiện Việt Nam, do nhiều yếu tố khách quan như chất lượng dịch vụ tiện ích bổ trợ cho dịch vụ thẻ như điện, viễn thông còn thiếu ổn định, khối lượng giao dịch rút tiền lớn dồn vào thời điểm trả lương, dịp Lễ, Tết và cả nhân tố chủ quan như hệ thống hạ tầng thẻ chưa đảm bảo thông suốt liên tục vào thời điểm nhu cầu rút tiền tăng cao đột biến nên chất lượng dịch vụ ATM có nơi, có lúc chưa đáp ứng được kỳ vọng của mọi người dùng thẻ. Bởi vậy, dự thảo cho phép thu phí giao dịch ATM nội mạng nhằm hỗ trợ về kinh phí cho các ngân hàng trong việc đầu tư, phát triển hệ thống và nâng cao dịch vụ ATM tại Việt Nam.

Thực tế trên thế giới, ngay cả ở những nước phát triển với chất lượng dịch vụ ATM ở mức cao, cũng thường xảy ra những trục trặc đối với hệ thống ATM. Ngoài ra, những dịch vụ tiện ích có thu phí khác như điện, nước, viễn thông, truyền hình cáp...cũng không phải bao giờ cũng đảm bảo hoạt động liên tục 100% thời gian phục vụ. Do vậy, những vấn đề người sử dụng ATM gặp phải như nuốt thẻ/ tiền, thẻ bị trừ tiền...là những vấn đề không mang tính phổ biến. Việc ATM nuốt thẻ/ tiền là thuộc quy trình nghiệp vụ nhằm bảo đảm an toàn tài sản của chủ thẻ khi thao tác sử dụng thẻ chưa thuần thục hoặc không chuẩn xác. Còn thẻ bị trừ tiền do lỗi kỹ thuật thì về nguyên tắc sau khi đối chiếu hoặc khi có phản ánh của khách hàng, ngân hàng sẽ tự động thực hiện giao dịch đảo và hoàn tiền cho khách hàng.

Dự kiếnthu phí dịch vụ ATMphù hợp với lộ trìnhvà khung phí theo quy định của NHNN

Các loại phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa được đề cập đến trong dự thảo Thông tư như phí phát hành, phí thường niên, phí chuyển khoản... đã được các ngân hàng áp dụng và công bố công khai theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, tùy thuộc khả năng và chính sách khách hàng trong từng thời kỳ, trong nhiều năm qua, đa số ngân hàng đều thực hiện miễn, giảm nhằm thu hút và mở rộng nguồn khách hàng.

 Với mục đích đảm bảo việc thu phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa (nếu có) diễn ra công khai, minh bạch, đúng pháp luật, dự thảo Thông tư quy định một số loại phí dịch vụ, phí giao dịch ATM cơ bản phải đảm bảo theo đúng lộ trình và trong khung phí quy định của NHNN. Phí chuyển khoản 15.000 đồng/ giao dịch trong Dự thảo là mức phí tối đa thường được áp dụng trong trường hợp ngoại lệ khi khách hàng thực hiện một số loại giao dịch đặc biệt như thực hiện chuyển khoản tại ATM của ngân hàng khác (giao dịch ngoại mạng) hoặc chuyển khoản từ ATM của ngân hàng phát ra ngoài hệ thống(giao dịch nội mạng ngoại lệ). Đối với giao dịch chuyển khoản ATM nội mạng, các ngân hàng thường thu thấp hơn nhiều mức trần nêu trên.

Về loại phí, mức phí liên quan đến thẻ nội địa như phí thường niên, phí phát hành, phí rút tiền ngoại mạng, chuyển khoản tại ATM mà các ngân hàng đang áp dụng hoặc dự kiến áp dụng trong khung biểu phí quy định. 

Trong mối tương quan với Biểu phí thẻ tín dụng quốc tế (VISA, MasterCard...) tại thị trường Việt nam hay so với biểu phí thẻ nội địa tại các thị trường thẻ khác trong khu vực và trên thế giới, các loại phí này nhìn chung phù hợp với thông lệ thị trường với mức phí khá cạnh tranh. Các loại phí này được thiết kế với mức phí khác nhau hoặc miễn phí để phù hợp với tính chất, mức độ phức tạp giao dịch và chi phí phục vụ. Do đó, những giao dịch đem lại tiện ích lớn, mất nhiều chi phí như rút tiền ATM, chuyển khoản ATM ngoại mạng/ liên ngân hàng thì sẽ có mức phí cao hơn những giao dịch đơn giản, không mất nhiều chi phí như vấn tin số dư tài khoản, sao kê giao dịch có in chứng từ tại ATM.

Một điểm quan trọng là dự thảo Thông tư chỉ quy định mức trần về phí dịch vụ, giao dịch ATM được phép thu trong từng thời kỳ. Điều đó có nghĩa là, các ngân hàng trong khả năng và phù hợp với chiến lược khách hàng trong từng giai đoạn có thể thu ở mức tối đa, thu một phần hoặc thậm chí là không thu phí. Bởi vậy, các khách hàng “nhạy cảm” với yếu tố phí vẫn có thể lựa chọn được những ngân hàng phục vụ phù hợp.

Mục đích chính của việc thu phí đối với giao dịch ATM rút tiền nội mạng (nếu có) chỉ hướng tới việc bù đắp, thu hồi một phần chi phí giao dịch, giúp các ngân hàng cân đối phần nào chi phí bỏ ra, có thêm động lực đầu tư, mở rộng mạng lưới ATM và nâng cao chất lượng dịch vụ; Đồng thời, việc thu phí cũng gián tiếp giúp dịch chuyển, định hướng lại hành vi, thói quen sử dụng dịch vụ từ sử dụng tiền mặt quá mức, nhiều khi không cần thiết (ví dụ: rút tiền mặt ATM tại siêu thị để mua hàng, rút tiền mặt khối lượng lớn tại ATM để chi trả trực tiếp...)sang thanh toán thẻ, thanh toán điện tử phù hợp với chủ trương khuyến khích phát triển thanh toán điện tử, thanh toán thẻ theo chủ trương của Nhà nước.

Việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước là một chủ trương đúng đắn của Chính phủ, giúp tăng cường tính minh bạch trong quản lý thu nhập của những đối tượng này, giúp Kho bạc Nhà nước, các cơ quan, đơn vị tiết giảm chi phí, thời gian, nhân lực liên quan đến chi lương bằng tiền mặt. Sau thời thời gian triển khai, nhận thấy sự tiện lợi, tính tích cực trong trả lương qua tài khoản, nhiều doanh nghiệp, tổ chức, mặc dù không thuộc đối tượng bắt buộc phải triển khai chủ trương trên cũng đã phối hợp với ngân hàng để thực hiện trả lương cho nhân viên, người hưởng lương qua tài khoản. Trong mối quan hệ này, nhìn chung, tất cả các chủ thể liên quan là cơ quan, đơn vị trả lương (người sử dụng lao động), người lao động hưởng lương và ngân hàng đều có lợi. Người sử dụng lao động tiết giảm được chi phí, nhân lực trả lương, tăng số giờ lao động thực tế tại cơ quan, đơn vị nhờ trả lương tự động; người lao động cũng hưởng lợi gián tiếp do cơ quan, đơn vị cắt giảm được chi phí; tiết kiệm thời gian do không phải xếp hàng, chờ đợi để được nhận lương; còn ngân hàng thì thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi ngắn hạn của người hưởng lương trên tài khoản.

Khuyến khích sử dụng nhiều chức năng của ATM và các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt khác:

Đối với nhiều chủ thẻ, tấm thẻ ghi nợ nội địa gắn với tài khoản thanh toán ngoài chức năng rút tiền tại ATM còn có thể được sử dụng vào nhiều mục đích thanh toán không dùng tiền mặt khác mà chủ thẻ hoàn toàn không mất phí như thanh toán tiền hàng hóa-dịch vụ qua cà thẻ (POS) hoặc với mức phí cạnh tranh như chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, thanh toán điện tử qua ATM, dịch vụ ngân hàng qua Internet, qua tin nhắn SMS...Việc lựa chọn kênh rút tiền ATM hay tại quầy là quyền của chủ thẻ tuy nhiên việc rút tại quầy cũng cần phải tính đến những yếu tố như mất chi phí đi lại, tốn thời gian do xếp hàng, đợi phục vụ và bị giới hạn về địa điểm giao dịch, thời gian phục vụ chỉ trong giờ làm việc ngân hàng.

Chủ thẻ cũng có thể cân nhắc cách thức sử dụng thẻ sao cho hiệu quả, tối ưu nhất là việc rút tiền tại máy ATM như: Cân đối kế hoạch chi tiêu để có tần suất, mức rút tiền phù hợp; rút tiền khối lượng lớn có thể đến quầy giao dịch ngân hàng; sử dụng thanh toán thẻ, thanh toán điện tử, chuyển khoản tại ATM...không mất phí hoặc với mức phí thấp hơn thay cho chi trả trực tiếp bằng tiền mặt.

Vấn đề phí rút tiền tại ATM đối với tiền lương của người lao động

Theo quy định tại Bộ Luật Lao động, lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng. Trường hợp trả qua tài khoản ngân hàng, thì người sử dụng lao động phải thỏa thuận với người lao động về các loại phí liên quan đến việc mở, duy trì tài khoản; Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn. Do vậy, trong trường hợp trả lương qua chuyển khoản, nếu không có thỏa thuận khác với người lao động, người sử dụng lao động có nghĩa vụ phải trả đầy đủ lương cho người lao động vào tài khoản ngân hàng, và không được khấu trừ các loại phí mở và duy trì tài khoản vào tiền lương của người lao động khi trả vào tài khoản. Nếu ngân hàng hoặc doanh nghiệp, tổ chức nào làm trái nguyên tắc trên là vi phạm quy định pháp luật về trả lương qua tài khoản. Thực tế cho thấy việc trả lương qua tài khoản là một chủ trương đúng, phù hợp với thông lệ quốc tế, tiết kiệm thời gian cho chủ thẻ, tiết kiệm chi phí, nhân lực trả lương, tăng số giờ làm việc thực tế cho người sử dụng lao động, tiết kiệm cho ngân sách, tiết giảm chi phí tổng thể cho toàn xã hội liên quan đến trả lương bằng tiền mặt.

Còn rút tiền tại ATM lại là một phạm trù khác. Hiện nay, người lao động có thể rút tiền tại quầy ở nhiều ngân hàng, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ qua POS mà không bị mất phí. Đối với trả lương bằng tiền mặt tại đơn vị sử dụng lao động, mặc dù người lao động không mất phí khi nhận tiền lương nhưng bản thân họ và chính đơn vị sử dụng lao động lại gián tiếp gánh chịu rất nhiều chi phí “ẩn” như phân tích nêu trên.

Qua quá trình nghiên cứu, lắng nghe ý kiến nhiều chiều, Ngân hàng Nhà nước đã dự thảo Thông tư quy định phí dịch vụ thẻ nội địa với định hướng có sự điều tiết, giám sát của Nhà nước trong quá trình thu phí, tôn trọng nguyên tắc thị trường, cạnh tranh và thỏa thuận trong việc cung ứng dịch vụ thẻ, phù hợp với các quy định pháp luật, bao gồm cả Luật Cạnh tranh.

Với những nội dung nêu trên, dự thảo Thông tư quy định phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa đã đáp ứng mục tiêu công khai, minh bạch về phí; đảm bảo viêc thu phí đối với một số dịch vụ, giao dịch thẻ cơ bản được quy định trong khuôn khổ và theo lộ trình, gắn với việc tăng cường chất lượng dịch vụ ATM và đảm bảo quyền lợi của chủ thẻ./.


Theo TTVN/SBV

Trong mạch chảy hình thành quần thể chung cư, khu đô thị mới, ngày càng nhiều phong cách ngoại quốc được du nhập vào Việt Nam từ chất lượng, kiến trúc, tới quản lý dịch vụ…
"Ở các thị trường nước ngoài, người ta mua chứng khoán nhiều hơn BĐS. Nhưng ở Việt Nam người dân thích đầu tư BĐS hơn là bỏ tiền vào các quỹ đầu tư hay chứng khoán", Giám đốc điều hành CBRE ông Marc Townsend cho biết.
Tại buổi làm việc với lãnh đạo Sở Xây dựng mới đây, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh đã chỉ rõ, mỗi nhà xây dựng trái phép được chung chi 30-50 triệu đồng, đồng thời yêu cầu cho thôi chức Chủ tịch UBND quận nếu để xảy ra tình trạng xây dựng nhà trái phép.
Chính phủ vừa đề xuất Quốc hội xem xét một số dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm giai đoạn 2016 - 2020 bao gồm đường bộ cao tốc Bắc – Nam, sân bay Long Thành, đường sắt cao tốc Bắc Nam... Tổng mức đầu tư ban đầu ước tính hơn 66 tỷ USD
Giá nhà đất tiếp tục leo thang chóng mặt là một phần nguyên nhân khiến các nhà đầu tư BĐS nước ngoài kém mặn mà với thị trường Nhật Bản.
Vừa qua, có một số Ngân hàng đã thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất huy động VNĐ đối với các kỳ hạn dưới 1 năm, mức giảm từ 0,3 - 0,5%. Có nhiều ý kiến tỏ ra lạc quan về tác động tích cực của động thái này tới thị trường bất động sản. Tuy nhiên, cũng có quan điểm tỏ ra khá thận trọng về tác động của việc giảm lãi suất.
Theo báo cáo mới nhất của công ty Savills, hầu hết các dự án nhà ở tại Bình Dương nhắm vào đối tượng khách hàng là chuyên viên, lãnh đạo và người mua từ những tỉnh/ thành khác.
Theo một nguồn tin của BizLIVE, tại Hội thảo “Cơ hội và tiềm năng Tập đoàn FLC” vào ngày 15/1 tới, Tập đoàn FLC sẽ chính thức mở bán dự án FLC Complex tại 36 Phạm Hùng, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Lên đầu trang