Thứ Bảy, 04/02/2012, 09:01

Quy định về phần sở hữu chung trong nhà chung cư

Hỏi: Các ki-ốt kinh doanh dịch vụ và khu vực để xe là sở hữu riêng, hay sở hữu chung trong nhà chung cư?
Trả lời:

Điều 70 Luật Nhà ở năm 2005 và Điều 49 Nghị định 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở đã quy định phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung trong nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu như sau:

Phần sở hữu riêng

Phần sở hữu riêng và các thiết bị sử dụng riêng trong nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu bao gồm:

- Phần diện tích bên trong căn hộ (kể cả diện tích ban công, lô gia gắn liền với căn hộ đó) của chủ sở hữu căn hộ; phần diện tích khác trong nhà chung cư mà chủ đầu tư bán cho riêng từng chủ sở hữu căn hộ hoặc bán cho các tổ chức, cá nhân khác.

Quy định về phần sở hữu chung trong nhà chung cư | ảnh 1
Ảnh minh họa

- Phần diện tích thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư (chủ đầu tư giữ lại, không bán và cũng không phân bổ giá trị phần diện tích thuộc sở hữu riêng này vào giá bán căn hộ cho các chủ sở hữu căn hộ).

- Các thiết bị sử dụng riêng trong căn hộ, trong phần diện tích khác thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu căn hộ hoặc của các chủ sở hữu khác.

Chủ sở hữu căn hộ, chủ sở hữu các phần diện tích khác trong nhà chung cư được gọi chung là các chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần sở hữu chung

Phần sở hữu chung nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu bao gồm phần diện tích và các thiết bị sử dụng chung cho nhà chung cư được quy định như sau:

Phần diện tích thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư bao gồm: Không gian, hành lang, cầu thang bộ, cầu thang máy, sân thượng, khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, đường thoát hiểm, hệ thống bể phốt, lối đi bộ, sân chơi chung và các phần khác không thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần diện tích khác không phải là phần diện tích thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư.

Nơi để xe (xe đạp, xe cho người tàn tật, xe động cơ hai bánh) được xây dựng theo quy chuẩn xây dựng và có thể bố trí tại tầng hầm hoặc tại tầng một hoặc tại phần diện tích khác trong hoặc ngoài nhà chung cư. Đối với khu vực để xe ô tô thì phải xây dựng theo quy chuẩn xây dựng nhưng do chủ đầu tư quyết định thuộc quyền sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư hoặc thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần sở hữu riêng và phần sở hữu chung nhà chung cư, các thiết bị sử dụng chung cho nhà chung cư phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán căn hộ chung cư.

Về thắc mắc của bà Trịnh Hồng Ánh, căn cứ các quy định nêu trên thì phần diện tích nhà còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng là thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư. Trong đó có nơi để xe đạp, xe cho người tàn tật, xe động cơ hai bánh tại tầng hầm, hoặc tại tầng một, hoặc tại phần diện tích khác trong hoặc ngoài nhà chung cư là phần sở hữu chung.

Đối với khu vực để xe ô tô do chủ đầu tư quyết định thuộc quyền sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư hoặc thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần diện tích khác không phải là phần diện tích thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư là phần diện tích thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư, trong đó có thể có diện tích dùng làm ki ốt để kinh doanh dịch vụ.

Trường hợp phần diện tích ki ốt này do chủ đầu tư giữ lại, không bán và cũng không phân bổ giá trị phần diện tích này vào giá bán căn hộ cho các chủ sở hữu căn hộ, thì diện tích đó thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư.

Theo quy định tại Điều 73 Luật Nhà ở; Điều 50 Nghị định 71/2010/NĐ-CP và Điều 5 Quy chế quản lý sử dụng nhà chung cư (Ban hành kèm theo Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD ngày 28/5/2008 của Bộ Xây dựng) thì việc quản lý phần sở hữu chung của nhà chung cư phải do doanh nghiệp có năng lực chuyên môn về quản lý vận hành nhà chung cư thực hiện.

LSTrần Văn Toàn- VPLS Khánh Hưng
(Theo Chinhphu.vn)

Hỏi: Tôi đang chuẩn bị mua nhà đất nhưng không nắm rõ khi mua nhà đất phải chịu các loại thuế, phí gì? cách tính những loại thuế, lệ phí này như thế nào?
Hỏi: Tôi đã đăng ký kết hôn, hiện có mua được một mảnh đất nhưng chỉ muốn đứng tên một mình tôi. Vợ tôi cũng đã đồng ý để tôi đứng tên một mình. Tuy nhiên UBND xã nơi tôi mua mảnh đất lại không công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất cho tôi dựa trên căn cứ tại Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình.
Hỏi: Năm 2008, gia đình tôi có đưa tiền cho bác họ nhờ mua mảnh đất ở quê. Giờ chúng tôi muốn về quê sống trên phần đất đã mua này, xong bác không đồng ý trả đất cho gia đình tôi với lý do sổ đỏ đã đứng tên bác ấy. Xin hỏi, giờ tôi làm cách nào để đòi lại đất?
Hỏi: Ngôi nhà tôi đang xây dựng là chung cư mini, cách nhà hàng xóm bên cạnh chỉ khoảng 1m. Để ngôi nhà thoáng gió, chúng tôi tính làm cửa sổ (chớp) mở về phía nhà đối diện nhưng không được họ đồng ý.
Hỏi: Hộ khẩu nhà tôi gồm tôi và bố mẹ. Do mẹ tôi là người dân tộc nên khi chuyển đổi mục đích khu đất từ đất vườn sang đất xây nhà, chúng tôi được miễn giảm một nửa tiền sử dụng đất. Đến khi tôi chuẩn bị kết hôn, mẹ tôi cho tôi một mảnh đất.
Hỏi: Xin hỏi, với tư cách là pháp nhân công ty đứng trên hợp đồng mua bán, một công ty của người nước ngoài có góp vốn với người Việt Nam có được mua nhà ở không, trong những trường hợp nào?
Lên đầu trang