Thứ Năm, 01/03/2012, 16:01

Nhìn lại vấn đề đất đai trong quá trình thực hiện Hiến pháp năm 1992

Vấn đề đất đai là một trong những vấn đề hàng đầu của mọi nước, cho dù có phát triển và có ít hay nhiều đất đến đâu đi chăng nữa. Chính sách đất đai, vì vậy, là chính sách then chốt nhất của mỗi đảng và nhà nước cầm quyền đối với nhân dân.

Điểm lại lịch sử và tình hình đất đai

Vấn đề đất đai là một trong những vấn đề hàng đầu của mọi nước, cho dù có phát triển và có ít hay nhiều đất đến đâu đi chăng nữa. Chính sách đất đai, vì vậy, là chính sách then chốt nhất của mỗi đảng và nhà nước cầm quyền đối với nhân dân. Nó thể hiện đường lối của những người cầm quyền có liên minh hay không và có vì quyền lợi của nông dân hay không trong mỗi một giai đoạn lịch sử, cũng như có bảo hộ quyền sở hữu tài sản tư nhân và quyền định cư ổn định của công dân hay không.

Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 đã nêu lên đường lối: “Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo”, “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng”. Với đường lối trên, Đảng đã lôi cuốn nông dân Việt Nam ủng hộ và trở thành cơ sở của Đảng trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bởi vì ruộng đất là ước mơ ngàn đời của họ.

Sau Cách mạng tháng Tám, năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh giảm tô và ra Chỉ thị chia ruộng đất các đồn điền, trại ấp vắng chủ cho nông dân. Hiến pháp năm 1946 không có điều nào quy định về đất đai, nhưng khẳng định “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” (Điều 12).

Nhìn lại vấn đề đất đai trong quá trình thực hiện Hiến pháp năm 1992 | ảnh 1
Ảnh minh họa

Năm 1953, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Luật Cải cách ruộng đất. Với khẩu hiệu “người cày có ruộng”, Nhà nước tịch thu ruộng đất của địa chủ, cường hào trao cho dân cày, xác định quyền sở hữu của họ trên những diện tích đất đó. Cuộc cách mạng ruộng đất, dù có những sai lầm tả khuynh nghiêm trọng, nhưng kết quả hơn 810 nghìn ha ruộng đất của thực dân và địa chủ, ruộng đất công và nửa công nửa tư đã được chia cho 2,22 triệu hộ nông dân lao động (chiếm 72,8% số hộ ở nông thôn). Cải cách ruộng đất đã tạo ra chuyển biến to lớn về kinh tế, chính trị và xã hội; giải phóng sức sản xuất của đất nước lúc bấy giờ chủ yếu là dân cư nông thôn, tạo điều kiện bước sang một giai đoạn mới trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở nông thôn và góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp và vào việc củng cố miền Bắc sau khi giải phóng. Quá trình hợp tác hóa trong những năm 1960 đã chuyển phần lớn đất đai tư nhân thành sở hữu tập thể.*

Theo Hiến pháp năm 1960, điều 14 quy định “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân”. Còn theo điều 12, chỉ có đất hoang và rừng thì mới thuộc sở hữu toàn dân: Các hầm mỏ, sông ngòi, và những rừng cây, đất hoang và các tài nguyên khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân. Như vậy, Hiến pháp năm 1960 công nhận ba hình thức sở hữu đất đai là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Cũng ở đây, sở hữu nhà nước và sở hữu toàn dân được sử dụng như những khái niệm đồng nhất, trong đó Nhà nước là chủ sở hữu một số của cải quốc gia đã xác định.

Trong vùng tạm chiếm ở miền Nam, với sự tư vấn và tài trợ của Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm đề ra "Quốc sách về cải cách điền địa" (1955-1957) chủ trương phân chia các khế ước cho tá điền thuê mướn ruộng đất, tái phân điền sản, bồi thường cho địa chủ, cấp sở hữu cho nông dân.

Tuy nhiên, chính sách cải cách điền địa ấy thực chất là nhằm mục tiêu xóa bỏ thành quả ruộng đất mà chính quyền cách mạng đã mang lại cho nông dân nghèo, khôi phục giai cấp địa chủ và tạo ra một tầng lớp địa chủ mới, làm cơ sở cho chính quyền phong kiến, tư sản mại bản quan liêu và thực dân mới ở nông thôn. Với chương trình cải cách điền địa này, chính quyền Ngô Đình Diệm đã thu lại và trả cho chủ cũ tất cả đất của địa chủ mà Việt Minh đã tịch thu chia cho tá điền, mua lại tất cả tài sản từng thuộc về người Pháp (tổng cộng khoảng 650.000 ha).

Rất nhiều đất sau đó được bán hoặc cấp cho những người di cư đến từ miền Bắc. Những nông dân bị đòi lại đất trả cho chủ cũ trở thành người không có đất. Đến năm 1958, khoảng một nửa số người cày ở vùng Nam Bộ không có ruộng. Chương trình cải cách điền địa đã tước đoạt đất đai của nông dân, phục hồi giai cấp địa chủ ăn bám, bóc lột nông dân. Đây là thất bại chính trị to lớn của chính quyền Ngô Đình Diệm, là nguyên nhân sâu xa làm cho đông đảo nông dân miền Nam ủng hộ cách mạng, thúc đẩy phong trào chống My - Diệm càng quyết liệt hơn.

Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 buộc Mỹ phải xuống thang và chuyển sang chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Vì một vùng nông thôn rộng lớn đã ở dưới quyền kiểm soát của Mặt trận giải phóng miền Nam, nên Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu càng chú ý đến việc giành lại đất đai và chiếm lấy lòng dân.1 Chủ điền chỉ được giữ tối đa là 100 ha, trong đó 30 ha phải trực canh và 70 ha còn lại có thể cho tá điền thuê theo quy chế tá canh. Diện tích quá 100 ha luật pháp quy định phải bán lại cho người không có đất. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã bồi thường số đất bị truất hữu (tước quyền sở hữu) cho chủ điền bằng 10% tiền mặt và 90% công trái phiếu hạn 12 năm. Tá điền có quyền mua trả góp đất của Chính phủ với giá tiền chính phủ bồi thường chủ điền, vốn và lãi trả trong vòng 12 năm với lãi suất 3%/năm. Diện tích đất tối đa một người nông dân được mua là 5 ha.

Năm 1970 chính quyền Thiệu ban hành Luật "Người cày có ruộng" chủ trương mua lại ruộng đất của địa chủ và cấp không cho nông dân (mỗi địa chủ được giữ lại không quá 15 ha)  Luật quy định ruộng đất không do địa chủ trực tiếp canh tác thì sẽ bị truất hữu và chủ đất được bồi thường 20% bằng tiền và 80% bằng công khố phiếu trả 10% lãi trong tám năm. Giá trị của đất ruộng quy định là 2,5 lần giá năng suất thóc từ đất đó. Ruộng đất truất hữu được ưu tiên cấp phát miễn phí cho tá điền (3 ha ở miền Nam và 1 ha ở Tây Nguyên và duyên hải miền Trung). Người nhận đất không được sang nhượng hay bán lại thửa đất đó trong vòng 15 năm. Điền chủ trực canh chỉ được giữ tối đa 15 ha ở miền Nam hay 5 ha ở miền Trung.. Ruộng đất do chính quyền cách mạng cấp cho nông dân cũng được công nhận và cấp giấy bằng khoán để nông dân chính thức sở hữu số ruộng đó và được miễn thuế một số năm. Tính đến ngày 15-7-1974, 1.290.949 ha ruộng đã được chuyển sang quyền sở hữu của hơn 75 vạn hộ gia đình, gồm khoảng 5 triệu người. Luật "Người cày có ruộng" không đụng chạm đến ruộng đất của tôn giáo nên sau năm 1975, các cơ sở tôn giáo còn sở hữu rất nhiều ruộng đất.

Về thực chất, chương trình "cải cách điền địa" của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu nhằm tư sản hóa địa chủ để phát triển công nghiệp và đô thị, tạo tiền đề cho sự phát triển chủ nghĩa tư bản, "hữu sản hoá" nông dân để lôi kéo nông dân, đồng thời tránh cuộc đấu tranh cách mạng ở các vùng nông thôn. Xét từ góc độ phát triển sản xuất và nâng cao đời sống phần đông nông dân, thì chương trình này khi kết hợp với các chương trình phát triển nông thôn (đưa giống lúa mới IR-3 “Thần nông” và máy móc nông nghiệp vào sản xuất) đã có tác động tích cực về nhiều mặt. Một tầng lớp tiểu nông đông đảo đã được hình thành, không còn thành phần đại địa chủ, kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp đã được thúc đẩy phát triển.

Sau khi thống nhất đất nước, có sự thay đổi lớn về phân bố dân cư và đất đai. Hàng triệu người ly tán trong chiến tranh đã trở về định cư ở quê cũ. Hàng triệu người cũng di chuyển theo chính sách di dân có kế hoạch của Nhà nước đến những vùng đất còn ít được khai phá. Riêng vùng Tây Nguyên, đã có gần 1,8 triệu người di cư theo kế hoạch và hàng chục vạn dân di cư tự do. Lúc này, đất đai được quy định là thuộc sở hữu tập thể (các HTX) và sở hữu nhà nước (các nông lâm trường), chỉ có một tỷ lệ nhỏ ruộng đất của các hộ cá thể và đất ở là thuộc sở hữu tư nhân.

Hiến pháp, năm 1980 của nước Việt Nam thống nhất (ban hành tháng 12-1980) bắt đầu một thời kỳ mới với quy định trong Điều 19: “Đất đai, rừng núi, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa,… đều thuộc sở hữu toàn dân”; Điều 20: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm. Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật” và “Đất dành cho nông nghiệp và lâm nghiệp không được dùng vào việc khác, nếu không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép”. Với quy định này của Hiến pháp, tuy không tuyên bố về một cuộc quốc hữu hóa ở quy mô cả nước, nhưng trên thực tế quyền sở hữu tư nhân và tập thể đối với đất đai đã bị tước đoạt mà không có đền bù. Chế độ sở hữu tư nhân và tập thể đối với đất đai tồn tại hàng nghìn đời cùng những thể chế chính thống và những luật tục phi chính thống của cộng đồng nhằm quản lý, xử lý và điều chỉnh quan hệ về đất đai giữa các công dân, các cộng đồng và các chủ thể khác trong xã hội không còn là hợp pháp.   

Có thể thấy rằng, bắt đầu từ thời gian này diễn ra hai xu hướng ngược chiều giữa quan điểm lý luận về sở hữu toàn dân và thực tiễn quản lý và sử dụng đất đai. Trong khi hệ thống pháp luật được thiết lập theo hướng hiện thực hóa quan điểm lý luận về chế độ sở hữu toàn dân bằng cách trao quyền định đoạt cho các cấp chính quyền, thì thực tiễn hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường lại đòi hỏi phải giao ngày càng nhiều hơn các quyền cho người sử dụng đất.

Tháng 1-1981 Ban Bí thư ban hành Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động (khoán 100), mở đường cho việc giao ruộng đất của tập thể về cho hộ gia đình quản lý và sử dụng.

Tháng 12-1987, Quốc hội thông qua Luật Đất đai nhằm thể chế hóa cơ chế Nhà nước giao đất không thu tiền và chính thức hóa một số công cụ quản lý đất đai trên nguyên tắc Nhà nước bao cấp hoàn toàn về đất đai, người sử dụng đất chỉ được quyền sử dụng và hưởng lợi, đất không có giá trị và giá cả, Nhà nước thu hồi đất để giao cho dự án đầu tư và nhà đầu tư thực hiện bồi thường. Luật này thể hiện rõ quan điểm lý luận đất đai không phải là hàng hóa và không công nhận thị trường đất đai.

Chỉ ít lâu sau đó, tháng 4-1988 Bộ Chính trị thông qua Nghị quyết 10 về giao  đất đai có thời hạn tương đối lâu dài cho hộ gia đình. Trong thời kỳ này, Nhà nước chưa sử dụng quyền chủ sở hữu để thu hồi ruộng đất ở quy mô lớn cho các mục tiêu sử dụng khác. Quyền này cũng chưa được phân cấp và nó vẫn được tập trung tuyệt đối ở chính phủ trung ương.

Hiến pháp năm 1992, tiếp tục khẳng định chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai và bổ sung thêm trong Điều 18: “Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Tháng 7-1993 Luật Đất đai được sửa đổi với cơ chế Nhà nước giao 5 quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp đất đai cho hộ gia đình, cá nhân đối với đất nông nghiệp được giao, đất ở và đất chuyên dùng phi nông nghiệp nhằm phát triển kinh tế hàng hóa nông nghiệp. Trong luật này quyền của Nhà nước thực hiện chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai thể hiện ở việc Nhà nước cho doanh nghiệp thuê đất có thời hạn; đất đai có giá và giá đất do Nhà nước quy định; Nhà nước thu hồi đất để giao cho dự án đầu tư và nhà đầu tư thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Trước đòi hỏi của sự phát triển kinh tế thị trường, nhất là của thị trường đất đai và bất động sản, tháng 12-1998, Luật Đất đai lại được sửa đổi, bổ sung một số điều nhằm mở rộng thêm quyền của doanh nghiệp sử dụng đất: được trả tiền thuê đất một lần và có các quyền giao dịch về đất đai (chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại trong khu công nghiệp, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn), được nhận chuyển quyền sử dụng đất từ hộ gia đình, cá nhân và được Nhà nước giao đất để thực hiện dự án xây dựng kinh doanh nhà ở, hạ tầng khu công nghiệp, đổi đất lấy hạ tầng.

Nhìn lại vấn đề đất đai trong quá trình thực hiện Hiến pháp năm 1992 | ảnh 2

Tháng 6-2001, Luật Đất đai lại một lần nữa được sửa đổi, bổ sung nhằm phân cấp quản lý nhiều hơn cho cấp tỉnh và huyện về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chính phủ quyết định giao đất trong các trường hợp, dự án có quy mô lớn, liên quan đến an ninh - quốc phòng. UBND cấp tỉnh  quyết định giao đất, cho thuê đất cũng như chuyển đổi mục đích sử dụng đối với các tổ chức kinh tế sử dụng đất, các hộ gia đình, cá nhân tại nội thành, nội thị. Chính quyền cấp quận, huyện được giao đất, cho thuê đất đối với các trường hợp còn lại.

Luật Đất đai năm 2003 là văn bản tích hợp các đổi mới trong thời gian 10 năm kể từ Hiến pháp năm 1992; luật này chủ yếu bao gồm:

(1)Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai được cụ thể hóa dưới dạng các quy định chi tiết về quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai.

(2)Giá đất do Nhà nước quy định phải phù hợp với giá đất trên thị trường trong điều kiện bình thường.

(3)Người sử dụng đất phải trả tiền cho chủ sở hữu là Nhà nước.

(4)Các tổ chức kinh tế có tài sản là quyền sử dụng đất được phép thực hiện các giao dịch về đất đai trên thị trường.

(5)Cơ chế Nhà nước thu hồi đất được hạn chế lại, chỉ áp dụng cho các trường hợp sử dụng đất vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh và một số dự án đầu tư phát triển kinh tế quan trọng như đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu dân cư đô thị và nông thôn, các dự án có vốn đầu tư thuộc nhóm A, các dự án sử dụng 100% vốn đầu tư nước ngoài.

(6)Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất đã được giao phó cho chính quyền cấp tỉnh, huyện, xã.

(7)Thiết lập một hệ thống trình tự, thủ tục hành chính đầy đủ đối với các quan hệ đất đai.

(8)Tạo bình đẳng hơn về quyền và nghĩa vụ đối với đất đai giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Trong thời gian sau Hiến pháp năm 1992, tình hình đất đai có những biến đổi lớn. Hệ thống các văn bản pháp luật được hoàn chỉnh để đáp ứng yêu cầu về quản lý đất. Bộ máy quản lý nhà nước đối với đất đai được tăng cường cả về số lượng, chất lượng cán bộ và phương tiện kỹ thuật.

Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phát triển kinh doanh bất động sản và quá trình đô thị hóa đã dẫn tới sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở quy mô lớn3. Đặc biệt từ sau khi có sự phân cấp của Luật Đất đai năm 2003, quy mô thu hồi và chuyển đổi mục đích sử dụng đất tăng lên đột biến.

Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và môi trường, trong vòng 5 năm từ 2001 - 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp tới trên 366 nghìn ha, chiếm 3,9% đất nông nghiệp đang sử dụng. Bình quân mỗi năm thu trên 73.000 ha. Sang thời kỳ 2006 – 2010, số diện tích đất nông nghiệp được chuyển sang mục đích phi nông nghiệp là 645.200 ha, bình quân mỗi năm khoảng 130.000 ha, gấp gần 2 lần so với thời kỳ trước. Như vậy, tổng cộng số đất thu hồi của nông dân trong 10 năm lên tới 1 triệu héc ta (lớn hơn nhiều số đất 810 nghìn ha mà nông dân đã từng được chia trong cải cách ruộng đất những năm 1950).

Tình hình đất đai đã trở thành nóng bỏng trong đời sống kinh tế, xã hội và chính trị của đất nước. Số nông dân bị mất đất quá lớn, khó chuyển đổi sinh kế và tìm việc làm (tính theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, cứ một hecta bị thu hồi ảnh hưởng tới 10 người, thì số người đã bị ảnh hưởng là 10 triệu người). Dòng di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị tăng vọt, là nguyên nhân chính gây tình trạng quá tải về hạ tầng kỹ thuật và xã hội ở các đô thị, đồng thời tạo ra những khu dân cư nghèo (“ổ chuột”) ngày càng rộng lớn ở các đô thị lớn. Số vụ khiếu kiện liên quan đến đất đai chiếm trên 70% tổng số vụ khiếu kiện trong cả nước4. Đời sống xã hội ở các vùng có đất bị chuyển đổi mục đích sử dụng bị xáo trộn. Đã có không ít cuộc đấu tranh của nông dân giữ đất một cách chính đáng và bị chính quyền xử lý bằng công cụ pháp luật. Cũng có nhiều hiện tượng lạm dụng quyền lực của chính quyền để lấy đất của dân trao cho các doanh nghiệp với mục đích kinh doanh, không như quy định của Luật. Tham nhũng trong lĩnh vực đất đai là phổ biến ở các địa phương. Trong khi đó, đất đai mà Nhà nước thu hồi đã không được sử dụng đúng và có hiệu quả. Niềm tin của nhân dân đối với chính quyền, đối với chính sách của Đảng và Nhà nước giảm sút.

Công tác quy hoạch sử dụng đất chưa có đủ căn cứ khoa học, chưa tính tới phân vùng sử dụng đất, mà chỉ quan tâm tới tổng diện tích đất; việc điều chỉnh quy hoạch mang tính chủ quan diễn ra ở tất cả các cấp, kể cả cấp cao nhất là Quốc hội và Chính phủ. Việc mở rộng quyền cho các nhà đầu tư gắn với cơ chế Nhà nước giao đất, cho thuê đất để tạo thuận lợi cho phát triển thị trường bất động sản, nhưng cũng gây bất cập trong ngăn ngừa đầu cơ nhà đất vượt giới hạn. Cũng có nhiều hiện tượng lạm dụng quyền lực của chính quyền để lấy đất của dân trao cho các doanh nghiệp với mục đích kinh doanh, không như quy định của Luật. Việc phân cấp ngân sách, trong đó số tiền thu được từ  cho thuê đất được để lại cho ngân sách địa phương, đã là một động lực đối với cấp chính quyền địa phương trong việc thu hồi đất của nông dân để đem cho thuê, tăng nguồn thu ngân sách địa phương. Tham nhũng trong lĩnh vực đất đai là phổ biến ở các địa phương. Trong khi đó, đất đai mà Nhà nước thu hồi đã không được sử dụng đúng và có hiệu quả. Niềm tin của nhân dân đối với chính quyền giảm sút.

Liên tục trong những năm qua, câu chuyện đất đai luôn là vấn đề thời sự nóng bỏng của người dân cũng như các nhà hoạch định chính sách. Cho đến nay,  chưa có lĩnh vực nào xảy ra nhiều tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, kiện tụng, xung đột như lĩnh vực đất đai. Cũng chưa có đạo luật nào lại tốn nhiều giấy mực và thời gian tranh cãi khi chuẩn bị ban hành, khi bổ sung, sửa đổi như Luật Đất đai. Từ khi ban hành cho đến nay, Luật Đất đai đã trải qua rất nhiều lần sửa đổi, bổ sung như: năm 1993, 2001, 2003. Thực hiện Luật Đất đai năm 2003, Chính phủ đã ban hành 20 nghị định, thủ tướng Chính phủ đã ban hành 12 chỉ thị và 17 quyết định, Bộ Tài nguyên và môi trường và các bộ, ngành khác đã ban hành hơn 230 văn bản hướng dẫn. Các văn bản pháp luật về đất đai thường xuyên được điều chỉnh, nhưng không theo kịp đòi hỏi của tình hình quản lý thị trường đất đai trên thực tế5. Mặt khác, tính thống nhất trong chỉ đạo thực thi pháp luật giữa các bộ cũng không được bảo đảm. Riêng việc thống nhất một hệ thống đăng ký, một loại giấy chứng nhận cho cả đất đai và tài sản gắn liền cũng mất tới 15 năm thảo luận để đi đến quyết định.

Có thể nói, vấn đề đất đai hiện đang là khâu yếu trong tiến trình phát triển của đất nước và là vấn đề nhạy cảm nhất trong quan hệ liên minh chính trị giữa Đảng, nhà nước với giai cấp nông dân.


Vũ Tuấn Anh
(Theo Tamnhin.net)

Trong mạch chảy hình thành quần thể chung cư, khu đô thị mới, ngày càng nhiều phong cách ngoại quốc được du nhập vào Việt Nam từ chất lượng, kiến trúc, tới quản lý dịch vụ…
"Ở các thị trường nước ngoài, người ta mua chứng khoán nhiều hơn BĐS. Nhưng ở Việt Nam người dân thích đầu tư BĐS hơn là bỏ tiền vào các quỹ đầu tư hay chứng khoán", Giám đốc điều hành CBRE ông Marc Townsend cho biết.
Tại buổi làm việc với lãnh đạo Sở Xây dựng mới đây, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh đã chỉ rõ, mỗi nhà xây dựng trái phép được chung chi 30-50 triệu đồng, đồng thời yêu cầu cho thôi chức Chủ tịch UBND quận nếu để xảy ra tình trạng xây dựng nhà trái phép.
Chính phủ vừa đề xuất Quốc hội xem xét một số dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm giai đoạn 2016 - 2020 bao gồm đường bộ cao tốc Bắc – Nam, sân bay Long Thành, đường sắt cao tốc Bắc Nam... Tổng mức đầu tư ban đầu ước tính hơn 66 tỷ USD
Giá nhà đất tiếp tục leo thang chóng mặt là một phần nguyên nhân khiến các nhà đầu tư BĐS nước ngoài kém mặn mà với thị trường Nhật Bản.
Vừa qua, có một số Ngân hàng đã thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất huy động VNĐ đối với các kỳ hạn dưới 1 năm, mức giảm từ 0,3 - 0,5%. Có nhiều ý kiến tỏ ra lạc quan về tác động tích cực của động thái này tới thị trường bất động sản. Tuy nhiên, cũng có quan điểm tỏ ra khá thận trọng về tác động của việc giảm lãi suất.
Theo báo cáo mới nhất của công ty Savills, hầu hết các dự án nhà ở tại Bình Dương nhắm vào đối tượng khách hàng là chuyên viên, lãnh đạo và người mua từ những tỉnh/ thành khác.
Theo một nguồn tin của BizLIVE, tại Hội thảo “Cơ hội và tiềm năng Tập đoàn FLC” vào ngày 15/1 tới, Tập đoàn FLC sẽ chính thức mở bán dự án FLC Complex tại 36 Phạm Hùng, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Lên đầu trang