Thứ Năm, 10/05/2012, 10:10

Áp trần lãi vay 15%/năm, những vấn đề để ngỏ

Nhiều ngân hàng dù mong muốn giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn nhưng bản thân lại đang gặp khó khăn trong việc triển khai Thông tư 14/2012/TT-NHNN về việc áp trần lãi suất cho vay.

Áp trần lãi vay 15%/năm, những vấn đề để ngỏ

Đó là nhận xét của TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia ngân hàng trong cuộc trao đổi với ĐTCK.

Ngày 8/5 thực hiện áp trần lãi suất 15%/năm theo Thông tư 14. Tại sao ông cho rằng, các ngân hàng gặp khó khăn khi triển khai?

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) áp trần lãi suất cho vay xuống 15%/năm dĩ nhiên mặt tích cực là giúp các DN trong 4 lĩnh vực ưu tiên (phục vụ nông nghiệp-nông thôn, kinh doanh xuất khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ, và phát triển công nghệ bổ trợ) giảm chi phí vốn và có thể cáng đáng nổi chi phí tài chính lúc này.

Tuy nhiên, việc áp trần này chỉ có tác dụng với những DN có khả năng vay vốn hay đang vay vốn với hợp đồng tín dụng cho phép điều chỉnh lãi suất. Còn một bộ phận không nhỏ DN dù có đẩy xuống nữa cũng không hấp thụ được vốn, do hàng tồn kho quá cao nên chưa có nhu cầu vay vốn, hoặc tình hình tài chính của DN không cho phép vay.

Về phía NH, đẩy lãi suất cho vay xuống 15%/năm, đồng thời giữ lãi suất tiền gửi ở 12%/năm thì lãi biên chỉ có 3%/năm. Nếu tính thêm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, biên lợi nhuận chỉ còn khoảng 2,5%/năm, không đủ để nhiều NH trang trải chi phí hoạt động. Mức trần lãi suất 15%/năm chỉ được đón nhận một cách tích cực bởi các ngân hàng làm ăn có hiệu quả, chi phí hoạt động thấp. Vì thế, không ít NH đã thể hiện sự lúng túng trong việc triển khai Thông tư 14.

Tuy nhiên, NH vẫn được nhìn nhận là nơi kiếm được lợi nhuận cao kể cả khi DN gặp khó khăn. Liệu đây có phải là thời điểm để NH chia sẻ lợi nhuận?

Thông tin trên các báo cáo tài chính thì không đủ để nói lên lợi nhuận của các NH và tính xác thực của báo cáo không dễ dàng xác nhận được. Có thể trên báo cáo tài chính, các NH thể hiện những con số lợi nhuận rất lớn, nhưng nợ xấu rồi các chi phí khác có thể không được hạch toán một cách chính xác. Tuy nhiên, nói chung, ngành NH lãi không quá lớn như dư luận nói đến, nếu chúng ta quan sát các chỉ tiêu ROA (tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản) hay ROE (tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu).

Một vài NH có quy mô hoạt động lớn, có thể lãi ròng nhiều, nhưng toàn ngành NH thì ROA, ROE chỉ ở tầm trung so với các ngành khác trong nền kinh tế. Dĩ nhiên, các NH cũng mong muốn chia sẻ lợi nhuận và lợi ích với các thành phần khác của nền kinh tế, nhưng không vì thế mà bắt các NH phải chịu thiệt hại để cứu một số thành phần kinh tế khác. Điều đó không công bằng.

Vậy, để thực hiện theo Thông tư 14, các NH sẽ phải làm gì?

Mỗi NH có lẽ sẽ có những cách giải quyết riêng. Thứ nhất, theo Thông tư 14, không phải bất cứ DN nào nằm trong 4 lĩnh vực ưu tiên đều có thể vay với lãi suất từ 15%/năm trở xuống. Các DN chỉ có thể vay với điều kiện sức khỏe tài chính ổn định và có nguồn hoàn trả có thể chứng minh được.

Các NH cũng sẽ “chọn mặt gửi vàng”, chỉ cho vay với lãi suất ưu đãi những khách hàng quen biết và phải đáp ứng đủ điều kiện. Trên quan điểm của các NH, lãi biên là một hàm số của rủi ro. Rủi ro càng thấp thì lãi biên càng thấp và ngược lại, có nghĩa là, lãi biên 3% chỉ có thể áp dụng cho các khách hàng có độ rủi ro thấp. Thứ hai, NH sẽ phải xem những lĩnh vực cho vay nào có thể áp lãi suất cho vay cao hơn, chẳng hạn như tín dụng tiêu dùng, tín dụng BĐS... Ngay cả tín dụng cho các DN sản xuất, kinh doanh mà không nằm trong phạm vi được ưu tiên thì lãi suất vẫn cao và thời gian tới có thể còn cao hơn trước đây, để bù trừ cho việc họ phải áp dụng lãi suất thấp cho các DN trong phạm vi được ưu tiên. Thứ ba, các NH hiện tại cũng đang suy tính tới việc tăng phí dịch vụ. Chẳng hạn, dịch vụ về các loại thẻ, chuyển tiền, tư vấn, đặc biệt là những dịch vụ cho thanh toán quốc tế cũng có thể có sự điều chỉnh về phí.

Để tránh việc “bóp” chỗ này “phình” chỗ kia, Chính phủ nên xử lý thế nào?

Điều quan trọng nhất là nên phân loại các DN: Thứ nhất, những DN mà hàng tồn kho bị ứ đọng. Thứ hai, những DN cần vốn và có khả năng vay. Thứ ba, những DN cần vốn nhưng chi phí vốn của DN quá cao. Thứ tư, DN rất cần vốn nhưng không có khả năng vay vốn vì không có tài sản thế chấp hay không chứng minh được khả năng hoàn trả.

Trong những loại đó thì loại đầu tiên, dù đẩy lãi suất xuống nữa, DN cũng không vay vì không có nhu cầu. Loại thứ hai là DN đang vay các NH và có khả năng vay vì sức khỏe tài chính của DN tốt, có điều kiện để vay, thì với DN đó, việc đẩy lãi suất xuống thấp là rất có lợi cho họ. Với loại DN thứ ba và thứ tư, việc đẩy lãi suất xuống có lẽ cũng không giúp ích được gì, vì DN không hấp thụ, không tiếp cận được nguồn vốn. Với loại DN đó, phải có những biện pháp khác.

Những giải pháp đó là gì, thưa ông?

Ở Mỹ, họ lập ra tổ chức SBA để hỗ trợ các DN nhỏ. Quốc hội Hoa Kỳ mỗi năm dành một khoản ngân sách để tổ chức này dùng để bảo lãnh cho các DN khi tiếp cận khoản vay NH.

Ở Việt Nam, hiện không có cơ chế tương tự như vậy, nhưng có những quỹ bảo lãnh của Chính phủ để NH có thể cho vay các DN vừa và nhỏ. Trong trường hợp đó, dòng vốn chảy ra không phải là từ Chính phủ mà Chính phủ dùng một phần ngân quỹ để bảo lãnh, còn vốn là của các NHTM. Đó là cách có thể khai thông nguồn vốn ở các NHTM, vì hiện tại, rất nhiều NHTM ôm vốn vào nhưng không dám cho vay ra. Tuy nhiên, các DN cũng phải hội đủ một số điều kiện nhất định.

Theo Hồng Dung
ĐTCK
Trong mạch chảy hình thành quần thể chung cư, khu đô thị mới, ngày càng nhiều phong cách ngoại quốc được du nhập vào Việt Nam từ chất lượng, kiến trúc, tới quản lý dịch vụ…
"Ở các thị trường nước ngoài, người ta mua chứng khoán nhiều hơn BĐS. Nhưng ở Việt Nam người dân thích đầu tư BĐS hơn là bỏ tiền vào các quỹ đầu tư hay chứng khoán", Giám đốc điều hành CBRE ông Marc Townsend cho biết.
Tại buổi làm việc với lãnh đạo Sở Xây dựng mới đây, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh đã chỉ rõ, mỗi nhà xây dựng trái phép được chung chi 30-50 triệu đồng, đồng thời yêu cầu cho thôi chức Chủ tịch UBND quận nếu để xảy ra tình trạng xây dựng nhà trái phép.
Chính phủ vừa đề xuất Quốc hội xem xét một số dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm giai đoạn 2016 - 2020 bao gồm đường bộ cao tốc Bắc – Nam, sân bay Long Thành, đường sắt cao tốc Bắc Nam... Tổng mức đầu tư ban đầu ước tính hơn 66 tỷ USD
Giá nhà đất tiếp tục leo thang chóng mặt là một phần nguyên nhân khiến các nhà đầu tư BĐS nước ngoài kém mặn mà với thị trường Nhật Bản.
Vừa qua, có một số Ngân hàng đã thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất huy động VNĐ đối với các kỳ hạn dưới 1 năm, mức giảm từ 0,3 - 0,5%. Có nhiều ý kiến tỏ ra lạc quan về tác động tích cực của động thái này tới thị trường bất động sản. Tuy nhiên, cũng có quan điểm tỏ ra khá thận trọng về tác động của việc giảm lãi suất.
Theo báo cáo mới nhất của công ty Savills, hầu hết các dự án nhà ở tại Bình Dương nhắm vào đối tượng khách hàng là chuyên viên, lãnh đạo và người mua từ những tỉnh/ thành khác.
Theo một nguồn tin của BizLIVE, tại Hội thảo “Cơ hội và tiềm năng Tập đoàn FLC” vào ngày 15/1 tới, Tập đoàn FLC sẽ chính thức mở bán dự án FLC Complex tại 36 Phạm Hùng, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Lên đầu trang