Thứ Hai, 04/06/2012, 11:30

Suy kiệt tín dụng?

Chính sách cứu trợ cho nền kinh tế có lẽ là không tránh khỏi, nhưng nếu hiệu quả thấp và vẫn ưu đãi những bộ phận thiếu hiệu quả thì chỉ làm gia tăng đình đốn, lạm phát, thất nghiệp và nợ quốc gia.

Suy kiệt tín dụng?

Bài học về những cái vòng luẩn quẩn như vậy vẫn còn nóng hổi ở Hi Lạp, Anh và Mỹ.

Nhà băng có tiền nhưng khó cho vay

Cho đến tháng 5 này, ở Việt Nam đã xuất hiện các dấu hiệu rõ ràng của một tình trạng mà Anh và Mỹ lâm vào kể từ khi khủng hoảng tài chính bắt đầu và vẫn kéo dài tới nay: lãi suất thấp, ngân hàngthừa tiền nhưng doanh nghiệp (DN) không thể vay, nhất là DN vừa và nhỏ.Trang tin của Reuters hay các tờ báo lớn của Anh và Mỹ như Guardian và New York Times vẫn đang kể những câu chuyện về các ngành kinh doanh gặp khó khăn vì bị cắt giảm nguồn tín dụng. Những tình huống này nói chung là dấu hiệu của khủng hoảng tín dụng hay suy kiệt tín dụng (tạm dịch từ cách gọi credit crunch của Anh - Mỹ).

Đầu năm nay, tờ Guardian (Anh) cảnh báo tình trạng khủng hoảng tín dụng có thể quay lại khi một lượng lớn tiền của các ngânhàng ở châu Âu (khoảng 450 tỉ euro) được đem gửi vào Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) chỉ để lãnh lãi suất 0,25%. Các chuyên gia phân tích của những hãng tư vấn và phân tích lớn của nước ngoài nhận xét: như vậy,nhiều năm sau khi đợt khủng hoảng bắt đầu vào năm 2007, tình trạng suy kiệt (đôi khi gọi là khủng hoảng) tín dụng vẫn tiếp tục ở châu Âu.

Tình trạng không khá hơn ở Mỹ khi vào tháng 4 ngành khígas thiên nhiên cũng được cho là ở hoàn cảnh khó khăn khi nguồn cho vayliên tục cạn kiệt mà bản thân nhiều DN trong ngành cũng không muốn vay nữa. Xin nhớ rằng lãi suất của Mỹ vẫn ở mức rất thấp (các lãi suất chínhsách của Mỹ không xa mức 0% là bao nhiêu) còn lãi suất cho vay mua nhà 30 năm cũng chỉ ở mức 3,8-3,9%, theo số liệu của Bloomberg.

Điều này rủi thay lại tương đồng với tình trạng Việt Nam hiện nay. Lãi suất VND liên ngân hàng của Việt Nam trong những tuần đầu tháng 5 chỉ còn 2,5-3%/năm cho các khoản vay qua đêm và kỳ hạn một tuần, phản ánh tình trạng thanh khoản ổn định của các ngân hàng. Trong khi đó, số liệu lạm phát cũng tiếp tục cho thấy tín hiệu hạ nhiệt. Đây là hai điều kiện thuận lợi để Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thể xem xét giảm thêm lãi suất, các tổ chức nước ngoài cũng lên tiếng dự báo NHNN sẽphải tiếp tục giảm lãi suất. Tuy nhiên, một tín hiệu đối lập là các DN vẫn lên tiếng than phiền không thể vay được vốn.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Xét ở khu vực nguồn cung tín dụng là từ các ngân hàng thương mại, bản thân các ngân hàng thừa tiền có xu hướng đổ tiền vào các tài sản có chất lượng cao hơn và an toàn hơn như tín phiếu và trái phiếu chính phủ thay vì chovay. Đối với họ, môi trường kinh doanh hiện tại khi mà DN có nhiều hàngtồn kho và tình trạng đóng cửa phá sản của DN đang diễn tiến phức tạp, thì thà giữ tiền đầu tư với lãi suất thấp và thắt chặt điều kiện tín dụng vẫn tốt hơn cho vay mà mất luôn cả vốn lẫn lãi.

Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, dù DN có tài sản thế chấp thì chưa chắc ngân hàng đã mặn mà tiếp quản trong trường hợp DNkhông trả nổi nợ. Tình trạng này các học giả nước ngoài gọi là chạy vàotài sản chất lượng cao (flight to quality).

Ngược lại, xét ở mặt cầu tín dụng, nghĩa là các DN cần vay, thì trong một môi trường kinh doanh bất định và kém thuận lợi hơn trước, ngay cả trong môi trường lãi suất thấp dăm ba phần trăm của Anh và Mỹ mà nhiều DN cũng không muốn vay thì nói gì đến mặt bằng lãi suất cho vay hiện nay của Việt Nam. Với môi trường kinh doanh không thuận lợi, nhiều DN có điều kiện vay lại chú trọng vào tái cấu trúc, cắt giảm chi phí và chọn giải pháp phòng thủ, không mở rộng kinh doanh. Kết quả là DN không mở rộng đầu tư thì vay làm gì.

Nhiều chuyên gia trong nước đã dẫn chứng con số kim ngạch xuất khẩu tính đến tháng 4-2012 tăng 22% so với cùng kỳ năm trước trong khi nhập khẩu chỉ tăng 4,4% để nhấn mạnh về tình trạng thu hẹp sảnxuất trong nền kinh tế.

Nếu tách con số kim ngạch nhập khẩu ra thành khu vực kinh tế trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, có thể thấy mức tăng thấp của nhập khẩu gây ra do việc sụt giảm 11,9% kim ngạch nhập khẩu của khối kinh tế trong nước so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi khuvực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vẫn có mức tăng nhập khẩu hơn 25%.Do phần lớn hàng nhập khẩu của Việt Nam là làm đầu vào cho sản xuất, đây là tín hiệu thu hẹp sản xuất, tương đồng với những gì nhìn thấy qua con số DN đóng cửa và con số xin trợ cấp thất nghiệp.

Trong một bối cảnh DN đóng cửa, “đại gia” nợ nần, thiếutiền nông dân và các vụ bê bối ở các DN nhà nước liên tục bị phanh phui, các đối tác kinh tế như châu Âu và Mỹ đứng trước rủi ro tái khủng hoảng còn láng giềng Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, liệu DN nào sẽ mạnh tay vay tiền đầu tư? Đầu tư sản xuất rồi bán hàng cho ai khi mà hàng tồn kho cứ phình ra? Không cứ là các loại nhà cửa của các công ty bất động sản, cứ nhìn hiện trạng của một ngành kinh doanh như ngành điệnmáy trong mùa Euro này so với các kỳ lễ hội bóng đá trước đây thì rõ.

Việc suy kiệt tín dụng và đình đốn sản xuất ở Việt Nam đã được nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước dự báo trước. Nó chẳng qua là kết quả tất yếu của việc tăng trưởng tín dụng quá dễ dãi của nhiều năm trước, dẫn đến những DN không hiệu quả cũng vay được vốn và tạo bong bóng kinh tế. Nay khi vòi tín dụng bị đột ngột thắt lại trong vài năm gần đây để chống lạm phát và các DN đầu tàu mà thiếu hiệu quả lâm vào lao đao, ngân hàng ôm vào mình một lượng nợ xấu mới để lo xửlý và phải thận trọng với chuyện cho vay.

Do đó, dù có tiền họ cũng không dám mạnh tay cho vay. Mỹ với Nhật giữ lãi suất gần 0% mà còn lâm vào tình trạng như vậy, dù NHNN có hạ được thêm lãi suất nhiều nữa cũng không đảm bảo ngân hàng sẽ đẩy mạnh cho vay được. Bởi dù họ muốn cho vay, DN có khả năng vay cũng không chịu vay. Còn với DN muốn “liều mạng” vay với lãi suất bao nhiêu cũng được thì không nhiều ngân hàng dám mạnh tay cho vay, chưa kể những ngân hàng “dũng cảm” như vậy thì nhiều khả năng bản thân cũng đã có hạn chế đáng kể về vốn, chất lượng thanh khoản và chất lượng tài sản.

Phải nhìn lại gốc rễ của vấn đề

Hiện trạng ngân hàng có tiền dư mà không cho vay, DN thì thiếu vốn, nhất là DN vừa và nhỏ, là rất đáng lo ngại và có khả năngkéo tăng trưởng kinh tế đi xuống và gia tăng thất nghiệp. Tuy nhiên, cũng cần thấy là về mặt lý luận lẫn thực tế ở các nước và cả ở Việt Nam thời gian qua là không phải cứ giảm lãi suất và cho vay được sẽ giải quyết được tình hình suy giảm kinh tế và tăng thất nghiệp.

Hãy giả định rằng chúng ta không rơi vào bẫy thanh khoản, nghĩa là trường hợp cho dù NHNN có bơm tiền ra thì lãi suất cũng không giảm được, và cũng giả định rằng lạm phát sẽ không sớm bùng phát trở lại, ngay cả trong bối cảnh đó, vấn đề mấu chốt là hàng không bán được, sức cầu trong nước và nước ngoài giảm cùng những bất định trong môi trường đầu tư cũng đang làm các nhà đầu tư trong và ngoài nước chùn bước.

Vì vậy, trước hết, một môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch cộng với một môi trường vĩ mô lạm phát ổn định là cần thiết đểthu hút dòng vốn đầu tư và tín dụng chảy trở lại vào nền kinh tế. Nhưngdù đạt được như vậy thì vốn sẽ chảy đi đâu nếu sức cạnh tranh của nền kinh tế ngày càng tệ? Những đầu tư vào nền kinh tế của chúng ta trong bao năm qua để đổi lấy tăng trưởng bình quân 7%/năm đã tạo ra sức mạnh công nghệ và thương hiệu lớn nào cho Việt Nam?

Nếu nó quay lại vào bất động sản để đẩy giá nhà lên trởlại và đẩy chứng khoán sốt lên ở mức không tồn tại được thì chỉ làm lợicho một số người mà sẽ làm tổn hại nền kinh tế thêm một lần nữa. Vì vậy, với bất cứ gói giải cứu nào sẽ được đưa ra, hi vọng mục tiêu của những gói giải cứu đó nhắm tới cuối cùng là sự ổn định dài hạn và tái lập sức cạnh tranh của nền kinh tế, chứ không phải là môi trường để một số nhóm lợi ích trục lợi.

Từ lâu chúng ta đã được các nhà tài trợ vốn cho Việt Nam lẫn các định chế tài chính quốc tế tư nhân nhắc khéo trong báo cáo của họ rằng hiệu quả thực thi chính sách của chúng ta là không tốt.

Theo HỒ QUỐC TUẤN
(nghiên cứu sinh tiến sĩ Đại học Manchester, Anh)
Tuổi trẻ
Trong mạch chảy hình thành quần thể chung cư, khu đô thị mới, ngày càng nhiều phong cách ngoại quốc được du nhập vào Việt Nam từ chất lượng, kiến trúc, tới quản lý dịch vụ…
"Ở các thị trường nước ngoài, người ta mua chứng khoán nhiều hơn BĐS. Nhưng ở Việt Nam người dân thích đầu tư BĐS hơn là bỏ tiền vào các quỹ đầu tư hay chứng khoán", Giám đốc điều hành CBRE ông Marc Townsend cho biết.
Tại buổi làm việc với lãnh đạo Sở Xây dựng mới đây, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh đã chỉ rõ, mỗi nhà xây dựng trái phép được chung chi 30-50 triệu đồng, đồng thời yêu cầu cho thôi chức Chủ tịch UBND quận nếu để xảy ra tình trạng xây dựng nhà trái phép.
Chính phủ vừa đề xuất Quốc hội xem xét một số dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm giai đoạn 2016 - 2020 bao gồm đường bộ cao tốc Bắc – Nam, sân bay Long Thành, đường sắt cao tốc Bắc Nam... Tổng mức đầu tư ban đầu ước tính hơn 66 tỷ USD
Giá nhà đất tiếp tục leo thang chóng mặt là một phần nguyên nhân khiến các nhà đầu tư BĐS nước ngoài kém mặn mà với thị trường Nhật Bản.
Vừa qua, có một số Ngân hàng đã thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất huy động VNĐ đối với các kỳ hạn dưới 1 năm, mức giảm từ 0,3 - 0,5%. Có nhiều ý kiến tỏ ra lạc quan về tác động tích cực của động thái này tới thị trường bất động sản. Tuy nhiên, cũng có quan điểm tỏ ra khá thận trọng về tác động của việc giảm lãi suất.
Theo báo cáo mới nhất của công ty Savills, hầu hết các dự án nhà ở tại Bình Dương nhắm vào đối tượng khách hàng là chuyên viên, lãnh đạo và người mua từ những tỉnh/ thành khác.
Theo một nguồn tin của BizLIVE, tại Hội thảo “Cơ hội và tiềm năng Tập đoàn FLC” vào ngày 15/1 tới, Tập đoàn FLC sẽ chính thức mở bán dự án FLC Complex tại 36 Phạm Hùng, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Lên đầu trang